June 24, 2020

Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Cuộc tàn sát chuột vĩ đại ở Hà Nội

February 19, 2020

Mấy tuần trước khi còn ở dưới quê, tôi đọc được một câu chuyện về cuộc tàn sát chuột diễn ra ở Hà Nội vào đầu thế kỉ 20, và đã ghi lại để chia sẻ. Nhưng vì diễn tiến về trận dịch COVID-19 làm lôi cuốn quá, nên tôi quên. Nhân dịp Năm Con Chuột và cũng là lúc trận dịch đang diễn ra, tôi sẽ hầu các bạn câu chuyện về chiến dịch tàn sát chuột ở Hà Nội vào đầu thế kỉ 20, nhưng sự thất bại của chiến dịch để lại ‘di sản’ đến ngày nay về dịch bệnh (và cũng nói lên một phần tính cách của người Việt).

 

Học giả Michael G. Vann (Đại học Santa Clara, California) có xuất bản một công trình nghiên cứu mang tính sử, cung cấp nhiều chi tiết thú vị về những nỗ lực của người Pháp trong việc xây dựng và ‘văn minh hóa’ Hà Nội. Bài báo có tựa đề ‘Of Rats, Rice, and Race: The Great Hanoi Rat Massacre, an Episode in French Colonial History’ (French Colonial History, Vol 4, 2003) (1). Câu chuyện để lại nhiều suy nghĩ và bài học về người Việt cho người đọc.

 

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857 - 1932), người đã hiện đại hóa Hà Nội.  Nguồn: www.atlasobscura.com

 

Cái Toilet

 

Nói đến những di sản của người Pháp để lại Việt Nam, người ta nghĩ ngay đến các công trình mang tính cơ sở vật chất. Đó là hệ thống phân chia địa lí, là hệ thống hành chánh, hệ thống giáo dục, những khu đô thị từ Bắc chí Nam, những quốc lộ và hương lộ, và không thể nào không kể đến những công trình kiến trúc duyên dáng (cầu cống, tòa nhà) mà chúng ta vẫn chiêm ngưỡng ngày nay. Nhưng ít ai chú ý rằng người Pháp còn để lại một di sản rất thực tế và vô cùng quan trọng: cái cầu tiêu (toilet).

 

Năm 1897, Paul Doumer, sau một thời gian làm Bộ trưởng Tài chánh không mấy sáng giá, được bổ nhiệm chức Toàn quyền Đông Dương. Dĩ nhiên, ‘Đông Dương’ lúc đó bao gồm Việt Nam, Lào, và Campuchea. Doumer chọn Hà Nội làm thủ đô của Đông Dương. Ngay từ lúc đặt chân đến Hà Nội, Doumer đã nghĩ ngay đến việc hiện đại hóa khu đô thị này. Ý tưởng là sẽ biến khu thị tứ này thành một thành phố hiện đại, văn minh, một Paris của phương Đông.

 

Đại lộ Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền) Hà Nội, vào đầu thế kỉ 20. Nguồn: www.atlasobscura.com

 

Ông cho xây dựng hàng loạt tòa nhà, cầu, đường. Một khu đô thị mới dành cho người Pháp, gọi là ‘quartier européen’, được hình thành. Khu này tọa lạc ngay bên cạnh khu 36 phố phường cũ và dơ bẩn. Hà Nội thời đó, dưới cái nhìn của người Pháp, là một nơi nhiều ao hồ, đường xá thì chủ yếu là đường đất, mỗi khi mưa xuống trở nên lầy lội, còn nhà cửa thì chủ yếu là những mái tranh lụp xụp, tồi tàn. Khu ‘quartier européen’ có đường xá rộng, cây xanh, và những villa màu trắng, đẹp và rộng rãi. Dĩ nhiên, villa là phải có toilet theo kiểu Tây. Cái toilet thời đó được xem là biểu tượng của sự sạch sẽ và văn minh phương Tây.

 

Mà, toilet thì phải có hệ thống cống rãnh tốt. Do đó, một trong những việc đầu tiên Doumer bắt tay vào làm là xây dựng hệ thống cống dưới lòng đất để giải quyết chất thải. Kết quả là một hệ thống cống dài hơn 14 km được xây dựng.

 

Nhưng hệ thống cống này cũng chính là cơ hội tuyệt vời cho chuột sinh sôi nẩy nở. Chuột sống trong các ống cống nhiều đến nỗi các quan chức thuộc địa Pháp phải quan tâm, bởi vì họ không muốn có những người khách không được mời vào thành phố. Vả lại, chuột là là mầm mống của bệnh tật, có thể gây đạ dịch rất nguy hiểm.

 

Con chuột làm đau đầu các quan chức thuộc địa Pháp và họ phải phát động một chiến dịch săn diệt chuột vĩ đại vào đầu thế kỉ 21. Ảnh: www.atlasobscura.com

 

Chiến dịch săn diệt chuột

 

Họ nghĩ ra một cách diệt chuột rất thực tế là mướn người địa phương đi săn chuột. Người địa phương dĩ nhiên là người Việt. Đó là một công việc vô cùng khó nhọc, vì người săn chuột phải đi trong ống cống, với đủ thứ chất thải, phân người, xú uế, và phải đương đầu với những động vật nguy hiểm như rắn, rết. Nhưng vì được trả tiền, nên nhiều người nghèo sẵn sàng ‘đầu quân’ đi săn diệt chuột.

 

Chiến dịch săn diệt chuột được phát động vào mùa xuân năm 1902. Thoạt đầu, chiến lược này khá thành công. Tuần đầu tiên (26/4 đến 1/5/1902), số chuột được bắt là 7,985 con. Càng tham gia chiến dịch, các ‘quân sĩ’ săn diệt chuột càng có kinh nghiệm, hoàn thiện phương pháp, và năng suất của họ tăng rõ rệt. Từ tháng 6 trở đi, mỗi ngày họ bắt và tiêu diệt hơn 10,000 con chuột. Ngày 12/6/1903, ‘đội quân’ săn diệt chuột báo cáo đã tiêu diệt 20,114 con chuột.

 

Nhưng đội quân săn chuột bắt đầu không hài lòng. Họ nghĩ rằng số tiền được trả không tương xứng với môi trường làm việc phức tạp, công sức bỏ ra và những hiểm nguy họ phải đối phó. Tháng 7/1902, Bác sĩ Serez báo cáo với cấp trên rằng ông đang gặp vấn đề với người địa phương trong chiến dịch diệt chuột. Người Việt bắt đầu … đình công. Họ đòi tăng ‘lương’. Thế là nhà cầm quyền thuộc địa phải trả 2 cent cho mỗi con chuột bị giết. Dù vậy, các ‘chiến sĩ’ diệt chuột vẫn không hài lòng. Đến năm 1904, nhà cầm quyền tăng ‘lương’ lên 4 cent cho mỗi con chuột bị giết.

 

Thế nhưng dù thành công như vậy, dân số của chuột vẫn hơn số người đi săn lùng chúng. Để mở rộng chiến dịch tàn sát chuột, nhà cầm quyền không cần xem bằng chứng có chuột chết, mà chỉ cần bằng chứng cái đuôi chuột là cũng được trả tiền công. Lúc đó, vì số chuột bị giết nhiều quá, nên nhà cầm quyền không muốn xử lí xác chuột nữa mà giao cho người địa phương làm gì thì làm, và họ chỉ cần xem cái đuôi chuột như là bằng chứng để trả tiền công.

 

Nhưng nhà cầm quyền thuộc địa nhanh chóng nhận ra rằng chiến dịch đang thất bại. Trong lúc nhà cầm quyền treo giải diệt chuột, thì người địa phương cũng có cách moi tiền các nhà thuộc địa. Họ đem đến hàng ngàn đuôi chuột mỗi ngày để nhận tiền. Các viên chức Pháp khi đi tuần tra thấy những đoàn chuột không đuôi chạy quanh đường phố! Họ nhanh chóng nhận ra mánh khóe của những người Việt được đánh giá là rất giỏi trong việc săn diệt chuột. Mánh khóe đó là gian lận: những người này chỉ bắt chuột, cắt lấy đuôi, và thả chúng ngoài đường, chớ không diệt chuột. Họ thậm chí còn nuôi chuột để lấy đuôi cải thiện thu nhập, và sẵn sàng để cho chuột chạy đầy đường.

 

Các nhà chức trách thuộc địa bắt đầu chán nản với người Việt. Họ nghĩ rằng họ muốn làm sạch thành phố, muốn đem ánh sáng văn minh đến thành phố, nhưng họ bị lừa một cách có hệ thống. Hậu quả là dân số chuột càng ngày càng tăng, chớ không hề giảm. Thế là nhà cầm quyền thuộc địa chấm dứt chiến dịch săn diệt chuột. Chiến dịch đó đã hoàn toàn thất bại.

 

Dịch bệnh bộc phát

 

Trong thời gian đầu cai trị Đông Dương, các giới chức thực dân hầu như không biết gì về những bệnh vùng nhiệt đới. Trước những trận dịch đậu mùa, tiêu chảy, sốt xuất huyết, giang mai, v.v. họ chẳng biết làm gì hơn là dựng lên những hàng rào ngăn cách giữa người bản xứ và các quan chức thực dân.

 

Phố Hàng Mắm (Hà Nội) vào đầu thế kỉ 20. Ảnh: www.atlasobscura.com

 

Năm 1903, dịch hạch bộc phát ở Hà Nội. Đó cũng là năm mà Toàn quyền Paul Doumer muốn tổ chức một cuộc triển lãm (International Colonial Exposition) ở Hà Nội, vì ông muốn dùng dịp này để phô trương Hà Nội là thành phố văn minh, vệ sinh, một chiến thắng của chánh sách y tế công cộng. Nhiều hàng hóa và cargo khắp nơi trên thế giới đổ về Hà Nội, và đây lại thêm gánh nặng dịch bệnh cho Hà Nội vì những con chuột ngoại quốc đem theo mầm mống dịch bệnh đi theo những cargo hàng hóa. Quả thật, lúc đó dịch hạch đã lây nhiễm cho 159 người; trong số này 110 tử vong. Đa số nạn nhân là người Việt. Chỉ có 6 người Pháp bị nhiễm, và trong số này 2 người chết. Con số tử vong ở người Việt chắc chắn cao hơn, vì gia đình giấu diếm do sợ nhà cầm quyền đến kiểm tra và can thiệp.

 

Dịch hạc