Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Trò chuyện với Tạp chí Sức Khỏe

December 13, 2019

Xin giới thiệu đến các bạn một bài phỏng vấn dàiii. Bài này do tạp chí Sức khoẻ phỏng vấn hôm sau Hội nghị Thần kinh ở Mỹ Tho vào tháng 11. Tôi nhớ hôm đó, chúng tôi (chị phóng viên và tôi) phải dời bàn 2 lần vì trời mưa và vì câu chuyện hơi dài. Câu chuyện xoay quanh hành trình cá nhân của tôi, từ những việc tôi làm ở Úc đến những việc ở Việt Nam. Có những việc đã vài chục năm rồi, mà bây giờ hồi tưởng lại thì thấy cũng hay hay.:-). Thú thật với các bạn, mỗi lần trả lời phỏng vấn kiểu profile như thế này tôi rất ngại và ngượng. Ngượng vì phải nói về chính mình -- cái mà người ta hay nói là "cái tôi đáng ghét", nhưng thôi thì cũng phải nói những thăng trầm trong cuộc đời. Hi vọng bài phỏng vấn tạo ra vài cảm hứng cho các bạn trong hành trình theo đuổi sự nghiệp khoa học. (Hình ảnh có thể xem trong bài trên tạp chí:

http://www.tcsuckhoe.com/tro-chuyen-cung-gs-nguyen-van-tuan-khac-ten-viet-trong-gioi-loang-xuong

 

====

 

Mới đây, tại Hội nghị khoa học thường niên của Viện hàn lâm y khoa (AAHMS) diễn ra ở Viện nghiên cứu y khoa Harry Perkins, Đại học Western Australia (UWA), Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là người gốc Á châu duy nhất được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia và cũng là người gốc Việt đầu tiên trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Australia bởi những đóng góp xuất sắc của ông cho y học, đặc biệt là lĩnh vực loãng xương. Trước đó, vào năm 2018, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã được trường Đại học Công nghệ Sydney (UTS) trao huy chương về thành tích nghiên cứu ngoại hạng có tác động lớn đến chuyên ngành (Chancellor’s Medal for Exceptional Research). Giải thưởng là hạng cao nhất trong 7 hạng mục về học thuật của UTS dành cho những nhà khoa học có đóng góp quan trọng cho đại học này và Australia với những thành tựu mang tính tiên phong, ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ông cũng là giáo sư gốc Việt đầu tiên ở Australia được trao học vị Doctor of Science, học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học Australia.

 

Chúng tôi gặp ông nhân dịp sau Hội nghị Thần kinh toàn quốc lần 21 và Hội nghị thần kinh quốc tế tại Việt Nam, mà ông là diễn giả chính. Buổi gặp mặt diễn ra tại một quán cà phê ông chọn ở Quận 3 trong không gian đậm nét Việt Nam và sâu lắng. Trước đó, ông đề nghị không dùng chữ “cảm tính mèo khen mèo dài đuôi” và không dùng danh xưng “giáo sư” hay “tiến sĩ”; tuy nhiên bài phỏng vấn vẫn dùng danh xưng đó. Dưới đây là cuộc trò chuyện cởi mở chung quanh sự kiện quan trọng trên và những công việc ông đã, đang và sắp làm, cũng như những suy tư về quê hương.

 

 Chụp hình lưu niệm sau khi kết thúc hội nghị y sinh học Á châu tại Đà Nẵng 7/12/2018

 

“Làm người có ích hơn là làm người thành công”

 

Phóng viên: Trước hết, xin chia vui và chúc mừng giáo sư đã được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia. Xin giáo sư cho biết quá trình bình bầu diễn ra như thế nào?

 

NVT: Quá trình tiến cử, bình duyệt và bầu là khoảng 1 năm. Đầu tiên, một viện sĩ trong Viện hàn lâm y học Australia (AAHMS) tiến cử và ứng viên được xét sơ tuyển qua một bài tổng quan 1 trang viết về những đóng góp chính của ứng viên cho y học và khoa học. Bước thứ hai là nếu được hội đồng AAHMS phê chuẩn, ứng viên sẽ được mời đệ trình hồ sơ dài, bao gồm lí lịch khoa học, một bài tổng quan không quá 30 trang về quá trình nghiên cứu, đóng góp cho y học thế giới và Australia, kèm theo bản copy của 10 công trình mà ứng viên xem là có ý nghĩa nhất. Hồ sơ này sẽ được gởi cho 7 chuyên gia được chọn từ những người trong chuyên ngành khắp nơi trên thế giới bình duyệt. Sau khi hội đồng AAHMS nhận được báo cáo bình duyệt, họ sẽ họp lại trong phiên khoáng đại và bầu cử. Danh sách ứng viên được bầu được giữ rất kín nhưng ứng viên đã biết trước khi công bố 2 tháng. Tóm lại, quá trình và qui trình tiến cử – bình bầu dựa vào ý kiến của giới chuyên ngành là chính.

 

Phóng viên: Là người gốc Việt duy nhất cho đến nay được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia và theo chúng tôi biết, ông cũng là người gốc Việt đầu tiên được trao bằng Doctor of Science của Australia, giáo sư có thể nói qua về học vị đó? Giáo sư tự xem mình là người Việt hay người Australia?

 

NVT: Trong hệ thống giáo dục đại học Australia, bằng Doctor of Science (DSc) được xem là học vị cao nhất, cao hơn PhD một bậc. Chỉ có một số đại học có quyền cấp học vị DSc và Đại học New South Wales mỗi năm cấp cho khoảng 5 người, nhưng có những năm không có ai. Tiêu chuẩn chính để được cấp học vị này là phải tốt nghiệp tiến sĩ sau 15 năm, là giáo sư thực thụ và có những đóng góp quan trọng cho chuyên ngành cấp quốc tế. Quá trình “học” khoảng 2 năm, bắt đầu với một luận văn nhỏ và dựa vào đó Hội đồng khoa học quyết định có cho ghi danh học DSc. Nếu được phê chuẩn cho ghi danh, ứng viên sẽ được mời viết một luận án tương đối dài và một bài diễn thuyết về đóng góp của mình; luận án sẽ được gởi ra ngoài bình duyệt và Hội đồng khoa học dựa vào kết quả bình duyệt sẽ quyết định cấp hay không cấp học vị DSc. Tất cả các bước diễn ra khoảng 2 năm.

 

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp mà những cá nhân có đóng góp lớn cho cộng đồng cũng được trao học vị DSc danh dự, mà không phải đệ trình luận án nào.

 

Hai cậu cháu (bé Thoa) nhân ngày ... tốt nghiệp, UNSW Sydney 2016.  

 

Về câu hỏi tôi tự xem mình là người Việt hay Australia, đây là câu hỏi nhiều người vẫn hay hỏi tôi trong các hội nghị quốc tế, vì họ thấy tôi mang họ “Nguyen”, một chỉ dấu rõ ràng nhất tôi là người Việt. Tôi vẫn nghĩ dù mang hộ chiếu Australia nhưng từ trong tâm tưởng và sâu trong lòng, tôi vẫn là người Việt và tôi đã nhiều lần thổ lộ như vậy trên báo chí. Mà, hình như đồng nghiệp nước ngoài, nhất là đồng nghiệp Á châu, cũng nghĩ như vậy. Chẳng hạn như năm 2018, sau khi kết thúc hội nghị Pan Asian Biomedical Sciences Consortium, các bạn ấy bầu tôi làm chủ tịch và xem tôi là đại diện Việt Nam (Đại học Đà Nẵng). Một số hội nghị quan trọng về nội tiết học và loãng xương ở Á châu, họ mời tôi nói chuyện, nhưng khi giới thiệu họ giới thiệu tôi là từ Việt Nam; thoạt đầu tôi nghĩ họ lầm, nhưng hình như không phải vậy. Thật ra, trong những lúc như vậy, tôi thấy mình có chút tự hào và tự thấy có trọng trách làm điều gì đó xuất sắc để lại ấn tượng đẹp về Việt Nam trong lòng khán giả.

 

Phóng viên: Trong một chia sẻ trên trang web cá nhân, ông gọi con đường đến Viện hàn lâm là một hành trình dài. Tại sao là hành trình dài và nó có ý nghĩa gì cho công chúng?

 

NVT: Tôi là người sanh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, nhưng nguyên quán thì ngoài Bình Định (vì quê ngoại và nội đều ở Phù Mỹ và Tuy Phước). Thuở nhỏ, gia đình tôi ngoài làm ruộng còn có một doanh nghiệp máy cày, nên trong những dịp nghỉ hè, tôi được theo các anh em họ đi qua rất nhiều cánh đồng lúa bát ngát thuộc tỉnh Kiên Giang như Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp… Rồi, bây giờ nhìn lại, tôi thấy từ những cánh đồng đó đến Viện nghiên cứu y khoa Garvan, và từ Garvan vào Viện hàn lâm thì quả thật là một hành trình dài.

 

Chẳng những đó là một hành trình dài mà còn có rất nhiều gian nan. Lúc mới tới Sydney (Australia), tôi làm “kitchen hand” (tức phụ bếp) trong nhà bếp của Bệnh viện St Vincent’s một thời gian, rồi sau đó là phụ tá trong một labo của Bệnh viện Royal North Shore và phụ tá trong một trung tâm nghiên cứu dịch tễ học của Bộ Y tế bang New South Wales. Nhưng cơ duyên lại đưa tôi về Viện Garvan thuộc Bệnh viện St Vincent’s, tức là sau 10 năm tôi đi đúng một vòng tròn. Còn có một vòng tròn lớn hơn: tôi rời Việt Nam, và sau 20 năm lại có dịp quay về Việt Nam làm vài việc có ích. Đời người có khi là “một cõi đi về” là vậy. Và, ý nghĩa chung là nếu chúng ta không phải là người của “danh gia vọng tộc”, việc chọn cho mình con đường đi khó, thì trước hay sau gì, phần thưởng cũng sẽ đến với chúng ta.

 

Xuất phát từ những cánh đồng như thế này ...  

 

đến Viện nghiên cứu y khoa Garvan 

 

Phóng viên: Ông có thể chia sẻ những khó khăn mà một nhà khoa học gốc Việt gặp phải trong sự nghiệp nơi xứ người?

 

NVT: Đây là một câu hỏi mà nhiều người hay hỏi tôi. Mỗi chúng ta có một lịch sử cá nhân, và khó mà nói con đường cá nhân là con đường cho mọi người. Riêng tôi, có lần tôi chia sẻ 10 yếu tố để có một sự nghiệp độc lập trong khoa học: đó là chọn một hướng đi, kiên trì theo đuổi ý tưởng, chọn môi trường làm việc tốt, chọn người hướng dẫn tốt, tương tác và tôn trọng đồng nghiệp, nhìn về bức tranh lớn trong chuyên ngành, nắm vững phương pháp, kĩ năng truyền đạt thông tin và công bố quốc tế.

 

Những khó khăn mà một nhà khoa học gốc Việt phải đối phó trong môi trường khoa học phương Tây (mà cụ thể là Australia) thì nhiều lắm, nhưng tựu trung lại là vấn đề “bộ lạc”, kĩ năng truyền đạt và kĩ năng giao tiếp. Khi nói “bộ lạc”, tôi muốn nói đến sự tiếp xúc với giới thượng tầng trong khoa học, trong chuyên ngành của mình. Đa số giới khoa học gốc Việt không có cơ duyên này, nên họ chỉ đứng bên ngoài cái “câu lạc bộ thượng tầng” đó và không có cơ hội để nói lên tiếng nói của mình.

 

Kĩ năng truyền đạt bằng tiếng Anh vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta làm tốt mà truyền đạt không tốt thì ít ai dám mời chúng ta đi nói chuyện, và khi ít ai mời thì khó có thể chia sẻ những nghiên cứu của mình đến cộng đồng quốc tế. Nhiều người nghĩ rằng công bố nhiều bài báo khoa học là đủ, nhưng đó là một suy nghĩ rất sai lầm, vì công bố là một chuyện, nhưng được mời nói chuyện trong các hội nghị lớn là một chuyện còn quan trọng hơn cả công bố khoa học.

 

Phóng viên: Ông có lời khuyên nào cho lớp trẻ để thành công trong khoa học?

 

NVT: Tôi muốn trích câu nói của Albert Eistein như là câu trả lời: “Điều quan trọng nhất là không bao giờ ngừng đặt câu hỏi. Sự tò mò có lí do để hiện hữu. Chúng ta không thể không suy ngẫm về sự kì vĩ và huyền bí của cõi vĩnh hằng, của sự sống, của cấu trúc hiện thực huyền diệu. Nếu mỗi ngày chúng ta cố gắng tìm hiểu một chút về sự huyền diệu này thì cũng đủ.” Tò mò và hoài nghi lành mạnh trong khoa học là rất cần thiết.

 

Tôi đôi khi nghĩ rằng “thành công” chỉ là ảo tưởng về chính mình; nhiều người làm mọi thứ và tận dụng mọi cơ hội để được mệnh danh là “thành công” và biến họ thành những người đánh giá mình quá quan trọng so với thực tế. Albert Einstein từng cho rằng những người nói về thành công là những kẻ ích kỉ, họ nhận từ đời hơn và đóng góp cho đời. Do đó, tôi thích chữ “hữu ích” hơn. Cố gắng làm người hữu ích để cống hiến cho đời hơn là nhận từ đời. Có thể nói người “thành công” là người có cuộc sống tốt và thoải mái, nhưng làm người hữu ích có một cuộc sống có ý nghĩa.

 

“Khắc tên Việt trong thế giới loãng xương”

 

Phóng viên: Một tờ báo về sức khỏe ở trong nước ví von rằng ông là người khắc tên Việt trong thế giới loãng xương. Cơ duyên nào dẫn giáo sư đến chuyên ngành loãng xương?

 

NVT: Cơ duyên đó xảy ra vào năm 1990 (tức khoảng 30 năm trước). Lúc đó, tôi theo học và làm việc ở Đại học Sydney, một hôm tôi thấy một quảng cáo của Viện nghiên cứu y khoa Garvan tìm 2 người bổ nhiệm vào vị trí “Research Scientists” về dịch tễ học và phân tích dữ liệu, nhưng họ ưu tiên cho người làm trong lĩnh vực xương khớp. Tôi không có kinh nghiệm trong lĩnh vực xương khớp, nhưng vẫn nộp đơn, vì tôi muốn có thu nhập cao hơn hiện tại. Qua phỏng vấn, Giáo sư John Eisman thuyết phục tôi tham gia nhóm nghiên cứu loãng xương lúc đó mới được thành lập. Tôi về Viện Garvan và phát hiện ra là họ chỉ mướn một mình tôi vì họ nghĩ tôi có khả năng làm 2 việc, và như vậy là tôi đã tiết kiệm cho Viện khá nhiều tiền! Giáo sư Eisman là người rất nổi tiếng trên thế giới và giữ nhiều vị trí quan trọng trong các hiệp hội y khoa, do đó, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người nổi tiếng thuộc các trung tâm lừng danh như Mayo Clinic, UCSF, UCSD… Vậy là tôi hòa mình vào thế giới loãng xương từ đó đến nay đã gần 30 năm.

 

Phóng viên: Vậy trong gần 30 năm qua, những đóng góp tâm đắc nhất của giáo sư trong chuyên ngành loãng xương là gì?

 

NVT: Ba mươi năm trước, chuyên ngành loãng xương chưa có nhiều nghiên cứu nên tôi có may mắn đóng góp một số kết quả quan trọng. Trong những đóng góp đó, tôi phải kể đến việc xác định mối liên quan giữa mật độ xương và gãy xương, phát hiện này đã được Tổ chức Y tế Thế giới đề ra tiêu chuẩn để chẩn đoán loãng xương cho toàn thế giới.

 

Kết quả thứ hai mà tôi cũng thấy có ý nghĩa là phát hiện sự mất xương ở người cao tuổi tăng theo thời gian chứ không ngừng lại như sách giáo khoa viết, phát hiện này đã viết lại một phần sách giáo khoa về loãng xương và nội tiết học. Kết quả thứ ba là sau này tôi và Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên còn phát hiện rằng mất xương có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong, phát hiện này cũng làm thay đổi nhận thức của giới chuyên ngành về bệnh lí loãng xương.

 

Đóng góp thứ tư mà tôi và labo rất tự hào là đã mở ra một chuyên ngành hẹp về di truyền học trong nghiên cứu loãng xương. Thời đó, labo chúng tôi là nhóm đầu tiên trên thế giới phát hiện ra gen liên quan đến chuyển hóa vitamin D có dính dáng đến mật độ xương và gãy xương, phát hiện này được xem là “cách mạng” trong chuyên ngành và dẫn đến hàng loạt nghiên cứu để tìm những gen có liên quan đến loãng xương trên thế giới.

 

Đóng góp thứ năm mà tôi và nhóm nghiên cứu xem là thiết thực cho bác sĩ là phát triển mô hình tiên lượng gãy xương. Thật ra, tôi phải ghi nhận đóng góp quan trọng của Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên ở đây, vì hai chúng tôi nghĩ ra mô hình này trước và công bố đầu tiên trên thế giới, trước cả Tổ chức Y tế Thế giới. Mô hình tiên lượng đơn giản nhưng phải cần đến 20 năm để có đủ dữ liệu cho việc xây dựng mô hình tiên lượng. Sự ra đời của mô hình này làm nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới làm theo, và có khi họ gọi là “Nguyen’s Model.”

 

Phóng viên: Bất kỳ bác sĩ nào ở Việt Nam và trên thế giới điều trị bệnh loãng xương hay nghiên cứu về nó đều làm quen hoặc sử dụng mô hình đánh giá nguy cơ gãy xương tên “Garvan Fracture Risk Calculator”. Giá trị từ tính thực tiễn của mô hình này, thưa giáo sư?

 

NVT: Câu chuyện đằng sau mô hình tiên lượng đó là như sau: Đa số bệnh nhân gãy xương không phải do loãng xương. Ngoài loãng xương ra, còn có nhiều yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ gãy xương. Do đó, nhóm nghiên cứu của chúng tôi phân tích và xây dựng một mô hình không chỉ dùng mật độ xương, mà còn các yếu tố đơn giản như té ngã và tiền sử gãy xương để tiên lượng nguy cơ gãy xương trong vòng 5 năm hoặc 10 năm. Mô hình này đã được khắp thế giới sử dụng để chọn bệnh nhân thích hợp cho điều trị và quản lí bệnh. Tổ chức Royal College of Physicians của Australia đề nghị sử dụng trong lâm sàng và đánh giá nguy cơ gãy xương cho bệnh nhân. Hiện nay, tôi và đồng nghiệp Việt Nam đang xây dựng một mô hình cho người Việt.