October 30, 2019

Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Việt Nam thất thủ chiến lược trên địa bàn Sông Cửu Long (Ngô Thế Vinh)

August 23, 2019

 

LGT:  Xin trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Nhà văn Bác sĩ Ngô Thế Vinh bàn về tác động của những con đập trên sông Cửu Long. Tác giả là người đã cảnh báo về sự cạn kiệt của sông Cửu Long hơn 20 năm trước qua cuốn sách sưu khảo "Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng". Những gì xảy ra gần đây có đúng với những gì tác giả dự báo hơn hai thập niên trước. Qua theo dõi tình hình, tác giả rất bức xúc trước những gì đã và đang xảy ra trên dòng sông huyền thoại và là nguồn sống của hàng trăm triệu người. Ít khi nào tôi thấy tác giả, một người nho nhã, dùng chữ 'thất thủ' trong bài viết, nhưng tôi tôn trọng ý kiến của tác giả. NVT

 

=====

 

DẪN NHẬP:

 

      Vậy mà đã 62 năm kể từ khi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong [1957] và cũng đã 24 năm từ ngày thành lập Ủy Hội Sông Mekong[1995]. Tính đến nay 2019, Bắc Kinh đã xây xong 11 con đập thủy điện khổng lồ / mega-dams (6,7) chắn ngang dòng chính sông Lancang Jiang, tên Trung Quốc của con Sông Mekong chảy trong lãnh thổ TQ với lượng điện sản xuất đã lên tới 21,300 MW và TQ vẫn đang tiếp tục xây thêm 19 con đập khác; Thái Lan ngoài các con đập phụ lưu, còn có kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong, và nay hai nước Lào và Cambodia còn có thêm dự án 12 đập dòng chính hạ lưu. Ngoài ra còn hàng trăm con đập phụ lưu đã và đang xây trên khắp lưu vực Sông Mekong, kể cả trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

 

      Khi mà hai con đập lớn nhất Nọa Trác Độ /  Nuozhado 5,850 MW và Tiểu Loan / Xiaowan 4,200 MW đã hoạt động phát điện toàn công xuất, có thể nói về tổng thể Trung Quốc đã hoàn tất phần lớn nhất kế hoạch thủy điện bậc thềm Vân Nam với 40 tỉ mét khối nước dự trữ trong các hồ chứa, tích luỹ trên 50% lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm và chặn 90% phù sa từ thượng nguồn, đủ cho TQ nắm quyền sinh sát toàn lưu vực sông Mekong.

 

      Không hề có dấu hiệu nào các dự án xây đập thủy điện trên suốt dọc chiều dài sông Lancang-Mekong sẽ chậm lại. Với 11 con đập Vân Nam, nay thêm 4 con đập dòng chính ở Lào: đập Xayaburi và Don Sahong đã  hoàn tất (2019), đâp Pak Beng và Pak Lay đang triển khai, các quốc gia trong lưu vực dưới Sông Mekong đang phải hứng chịu những hậu quả nhãn tiền:

 

      1/ Bắc Thái Lan, Tháng 7 vừa qua, do khúc sông Mekong cạn dòng với cá chết, đồng lúa khô cháy, Thủ Tướng Thái Lan phải kêu gọi TQ cứu nguy xả nước từ con đập Cảnh Hồng, Thái cũng yêu cầu Lào tạm ngưng hoạt động phát điện từ con đập Xayaburi; mà cũng Thái Lan là khánh hàng chính mua điện từ cả hai con đập này. (4)

 

      2/ Biển Hồ trái tim của Cambodia mực nước xuống thấp nhất, có nơi trơ đáy cho dù đã quá giữa mùa mưa; do mất nhịp đập của lũ / Mekong flood pulse, con sông Tonle Sap không thể đổi chiều, đưa nước chảy ngược lên Biển Hồ, như vậy có thể sẽ không còn Lễ hội Nước Bon Om Tuk truyền thống hàng năm nơi Quatre Bras, Phnom Penh.

 

      3/ Đồng Bằng Sông Cửu Long, năm nay 2019 cho đến tháng 7 qua cuối tháng 8 nước lũ thượng nguồn đổ về vẫn quá ít, mực nước ở Tân Châu và Châu Đốc xuống cực thấp – phá cả kỷ lục thấp nhất của năm hạn hán 2016, không chỉ ngư dân mất nguồn cá mà nông dân thì thấy trước không có đủ  nước cho vụ lúa sắp tới và còn phải hứng chịu thêm một thảm họa kép: do không có sức đẩy của nguồn nước ngọt thượng nguồn, nạn nhiễm mặn sẽ trầm trọng hơn và đang lấn sâu hơn nữa vào vùng châu thổ. (5)

 

      Câu hỏi khẩn thiết đặt ra là: 70 triệu cư dân trong Lưu vực Sông Mekong và ngót  20 triệu dân vùng ĐBSCL sẽ phải làm gì để thích nghi và sống còn, trước khi tình thế không thể đảo nghịch?

 

      Ủy Hội Sông Mekong / MRC bao gồm Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam trong ngót một phần tư thế kỷ qua đã chứng tỏ vô hiệu, nếu không muốn nói là gián tiếp đồng lõa cho các dự án đập thủy điện hiện nay. Chính Việt Nam cũng xây các đập thủy điện trên các phụ lưu Sông Mekong, cũng là khách hàng quan trọng mua thủy điện của Lào và Cambodia và cả đầu tư góp vốn cho các dự án xây đập của hai quốc gia này…

 

      BS Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn CLCD BĐDS xuất bản từ năm 2000, cùng với nhóm Bạn Cửu Long, từng theo dõi và lên tiếng báo động liên tục về một Lưu Vực Sông Mekong và ĐBSCL trước nguy cơ. (1) Và đây là một bài viết cập nhật tháng 8, 2019, với một nhận định khá bi đát là: Việt Nam đã bị thất thủ chiến lược trên địa bàn Sông Mekong – và ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ bị tan rã. Việt Ecology Foundation

 

KHỞI ĐI TỪ MỘT SAI LẦM CHIẾN LƯỢC

 

Qua ngót một phần tư thế kỷ, kể tử ngày 5 tháng 4 năm 1995 khi ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Việt Nam đặt bút ký Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong, Việt Nam đã phạm một sai lầm chiến lược là từ bỏ quyền phủ quyết / Veto Power, một điều khoản hết sức quan trọng đã có trong Hiệp Định Ùy Ban Sông Mekong 1957 (Mekong River Committee) vì Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn. Người viết cách đây ngót 2 thập niên đã đưa ra nhận định là Ủy Hội Sông Mekong 1995 (Mekong River Commission) là một “biến thể và xuống cấp” so với Ủy Ban Sông Mekong 1957 thời Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

 

Rồi trải qua bao nhiêu Hội nghị Thượng đỉnh từ cấp Thủ Tướng tới  hàng Bộ trưởng, vẫn không có một nỗ lực cụ thể hay tiếng nói mạnh mẽ nào từ Việt Nam để cùng các quốc gia trong lưu vực thực hiện những điều tối thiểu đã giao kết trong Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995. Và không phải là ngẫu nhiên mà ĐBSCL mới mau chóng phải đối đầu với một thảm họa môi sinh như hôm nay.  

 

 

Hình 1: Cứ 4 năm một lần, năm 2018 TT Nguyễn Xuân Phúc lại dẫn một phái đoàn đi dự  Hội Nghị Thượng Đỉnh Ủy Hội Sông Mekong [MRC Summit], đem theo một bài diễn văn viết sẵn với ngôn từ rất hoa mĩ; [hai cuộc họp Thượng Đỉnh trước 2010, 2014 nguyên TT Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu phái đoàn VN]; và như từ bao giờ khi các bài diễn văn được đọc xong, là lúc 4 nguyên thủ quốc gia Mekong cùng bước lên sân khấu nối vòng tay trong tay cho báo chí chụp hình PR, sau đó ai về nhà ấy, để rồi 4 năm sau là một Hội Nghị Thượng Đỉnh khác, với cùng một kịch bản, vẫn những khẩu hiệu trống rỗng, trong khi Con Sông Mekong, Biển Hồ,  ĐBSCL thì đang chết dần. Hà Nội thì chưa bao giờ có được tiếng nói mạnh mẽ – nhất là với Trung Quốc và cả Lào, để bảo vệ nguồn nước ngọt và phù sa sinh tử của mình, cho dù biết rõ Việt Nam là một quốc gia nạn nhân cuối nguồn.  [nguồn: ảnh MRC Việt Nam].

 

 

CẢNH ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG

 

Khi mà trong mỗi kế hoạch khai thác Sông Mekong đã ẩn chứa những mâu thuẫn sâu xa về quyền lợi giữa các nước thành viên nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp. Không dễ gì vượt qua trở ngại ấy nếu không có được một mẫu số chung – một Tinh Thần Sông Mekong, với không khí đối thoại cởi mở dẫn tới sự tin cậy để cùng nhau tính toán từng bước thận trọng trên quan điểm phát triển bền vững / sustainable development cho toàn lưu vực.

 

Cho dù từ những thập niên 1950, 1960 Ủy Ban Sông Mekong 1957 đã có những kế hoạch vĩ mô xây dựng các đập thủy điện lớn trên sông Mekong nhằm thăng tiến kinh tế cho cho vùng hạ lưu nhưng đã bị gián đoạn do cuộc Chiến tranh Việt Nam, khiến cho con sông Mekong vẫn còn giữ được vẻ hoang dã và cả sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.

 

Và để rồi, bắt đầu từ thập niên 1970, Trung Quốc như một “kẻ đến sau” nhưng đã nhanh chóng có cả một kế hoạch vĩ mô khai thác nguồn thủy điện phong phú của sông Lancang-Mekong với hàng loạt các dự án đập khổng lồ trên khúc sông chiếm hơn nửa chiều dài Sông Mekong 4,800 km nằm trong lãnh thổ Trung Quốc. Và kết quả Bắc Kinh, tuy là “kẻ đến sau nhưng đã về trước” và tính đến nay, Trung Quốc hoàn tất 11 con đập khổng lồ trên khúc sông Lancang-Mekong (6,7) bắt nguồn từ Tây Tạng xuống Vân Nam và Trung Quốc hiện nay đã nắm trong tay 40 tỉ mét khối nước của con Sông Lancang-Mekong.

 

 

TỪ NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỐI NGHỊCH

 

Quan điểm từ Trung Quốc: ngay từ đầu Bắc Kinh đã từ chối không muốn tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong bao gồm 4 nước: Lào, Thái, Cambodia và Việt Nam, để hoàn toàn không bị ràng buộc vào những điều khoản trong Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995, với mục đích Bắc Kinh có toàn quyền tự do khai khác con Sông Lancang-Mekong  [Lancang Jiang tên Trung Quốc của con Sông Mekong] chảy trong lãnh thổ Trung Quốc, bất chấp hậu quả tiêu cực xuyên biên giới / transboundary negative effects ra sao đối với các quốc gia hạ nguồn. Điển hình là hai trận hạn hán khốc liệt 2016 rồi 2019 nơi vùng hạ lưu trong khi Trung Quốc vẫn giữ một khối nước rất lớn trong các hồ chứa thủy điện của mình.

 

 

Trận hạn hán tháng 4, 2016, khi mà Trung Quốc tiếp tục trữ nước trong các con đập, trực tiếp nhất là trong hồ chứa con đập Cảnh Hồng khiến mực nước xuống hạ lưu thấp tới mức kỷ lục, không chỉ ở vùng Đông Bắc Thái nằm ngay dưới chân chuỗi đập Vân Nam chịu tác động trực tiếp, mà ngay ở nơi xa nhất cuối nguồn với ngót 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL cũng vô cùng khốn đốn vì thiếu nước. Điều khá hài hước, là Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng lúc đó chỉ còn biết kêu cứu Bắc Kinh xả nước từ hồ chứa đập Cảnh Hồng, điều mà trong thâm tâm Trung Quốc chẳng hề muốn làm, và rõ ràng Việt Nam hoàn toàn bị “thất thủ chiến lược” trước trận chiến môi sinh / ecological warfare” vô cùng thâm độc của Trung Quốc.

 

Trận hạn hán tháng 7, 2019, Trung Quốc lại một lần nữa không hề báo trước, giữa mùa mưa ít vẫn tiếp tục lấy nước vào các hồ chứa khiến cư dân Bắc Thái bị ngay một trận hạn hán của thế kỷ, đồng ruộng khô cháy, khúc Sông Mekong trơ đáy với cá chết. Lần này thì đến lượt Thủ Tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha phải kêu gọi Bắc Kinh xả nước từ đập Cảnh Hồng để cứu cho nông và ngư dân vùng Bắc Thái. (4) Không  chỉ có vậy, như một chuỗi phản ứng dây chuyền, ba nước Lào – Cambodia – Việt Nam chịu những hậu quả hạn hán khốc liệt không kém. Biển Hồ chưa bao giờ cạn nước đến như thế, có nơi trơ đáy khiến ghe thuyền mắc cạn [Hình 5], không phải chỉ hơn 1.5 triệu cư dân Cambodia sống quanh Biển Hồ khốn đốn vì hạn hán mà ĐBSCL cũng đang chịu những “cơn đau thắt ngực” do trái tim Biển Hồ đang bị thiếu nước trầm trọng.

 

 

Hình 2: Những con đập thuỷ điện trên dòng chính Sông Mekong: chỉ với 11  con đập trên Sông Lancang-Mekong thượng nguồn, TQ đã lưu trữ 40 tỉ mét khối nước, sản xuất 21,300 MW điện; riêng Lào đang hiện thực giấc mơ trở thành “Bình điện Á Châu / Asia’s Battery” hay “xứ Kuwait Thủy điện  Đông Nam Á”, Lào cũng lưu trữ 30 tỉ mét khối nước hàng năm. [nguồn: Michael Buckley, cập nhật 2019]

 

 

Và rồi là những ngụy biện của Trung Quốc: để tự bào chữa cho các con đập thuỷ điện khổng lồ Vân Nam, các công trình sư Tàu đã lý luận rằng các hồ chứa đập thuỷ điện ở thượng lưu có chức năng rất hữu ích: điều hoà dòng chảy con sông Mekong cho các quốc gia hạ nguồn: giữ nước trong Mùa Mưa làm giảm thiệt hại do lũ lụt nơi hạ nguồn và rồi trong mùa khô cũng vẫn những hồ chứa các con đập ấy xả nước xuống hạ lưu nhiều hơn lưu lượng tự nhiên… Lý luận giản đơn và ngụy biện ấy cho đến nay vẫn khiến một số người tin – kể cả giới khoa bảng;  nhưng thực tế thì không diễn ra như vậy, và chuỗi đập Vân Nam đang mang tới thảm họa chứ không hề mang lại những lợi ích mà Bắc Kinh luôn rêu rao.

 

KS Phạm Phan Long, Việt Ecology Foundation trong bài viết mới đây trên VOA, đã nhận định: “Do Biến đổi Khí Hậu, mưa ít dần trên lưu vực là có thật nhưng hạn hán sớm hơn và khắc nghiệt hơn khi thiếu mưa là do vận hành các hồ chứa thủy điện, chính chúng có khả năng gây ra hạn hán cả khi có mưa, chưa kể vào những năm ít mưa, tích trữ nước gây hạn hán càng thêm kinh khủng.” (3)

 

      … Rất sớm, từ hơn 10 năm trước (05/2009), Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc đã phải lên tiếng cảnh báo rằng “chuỗi đập Vân Nam là mối đe dọa duy nhất – lớn nhất / the single greatest threat” đối với tương lai và sự phồn vinh của con Sông Mekong, sẽ giết chết nhịp đập thiên nhiên của dòng sông / Mekong flood pulse, với con Sông Tonle Sap chảy hai chiều vốn như một hiện tượng thiên nhiên kỳ quan của thế giới.

 

Aviva Imhoff , nguyên giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế  IRN, cũng đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.

 

Quan điểm từ Thái Lan: ngoài việc xây đập thủy điện trên các phụ lưu như đập Pak Mun 136 MW (1994) trên sông Mun, và cả kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ Sông Mekong vào những hồ chứa nhằm cung cấp nước cho các cánh đồng lúa ở miền Trung và Đông Bắc Thái.  Cũng chính công ty Thái Lan Ch. Karchang đã giúp Lào xây con đập dòng chính đầu tiên Xayaburi vùng hạ lưu, và quan trọng hơn nữa Thái Lan là khách hàng chính mua 95% lượng thủy điện của Lào qua Công ty EGAT / Electricity Generating Authority of Thailand, như thêm động lực tạo thuận cho Vientiane phát triển thêm về thủy điện trên khắp nước Lào. Và cần nói thêm, chính Thái Lan cũng là khách hàng chính mua thủy điện của TQ từ con đập Cảnh Hồng 1,750 MW hoạt động từ 2008. Cảnh Hồng hiện đang là con đập thủ phạm trực tiếp gây họa khiến cư dân các tỉnh Bắc Thái đang phải kêu trời.

 

Quan điểm từ Lào: là một quốc gia tương đối nghèo nhất trong vùng, với những người Lào thấy được tiềm năng thủy điện phong phú của con Sông Mae Nam Khong [tên Lào-Thái của Sông Mekong], Lào nuôi giấc mơ canh tân, họ muốn biến đất nước Lào trở thành một xứ “Kuwait về thủy điện Đông Nam Á” hay “Bình điện Á Châu / Asia’s Battery”. Nam Ngum 150 MW là con đập thuỷ điện phụ lưu đầu tiên của Lào và được hoàn tất rất sớm từ 1971 giữa giông bão của cuộc chiến tranh Việt Nam. [Hình 3] Sau đó, trong suốt hơn bốn thập niên, Lào đã và đang liên tục xây vô số các đập thủy điện trên những phụ lưu Sông Mekong, trong đó phải kể các con đập phụ lưu rất lớn như Nam Theun-2  900 MW, Theun Hinboun… và nay tới kế hoạch triển khai xây 9 con đập dòng chính trên Sông Mae Nam Khong mà con Domino đầu tiên là đập Xayaburi, tới con đập thứ hai Don Sahong và còn tiếp tục xây tiếp các con đập khác: Pak Beng con đập thứ ba đang xây, và Pak Lay dự án thủy điện dòng chính  thứ tư, đã qua giai đoạn tham vấn rất tượng trưng và chắc chắn Lào sẽ tiến hành xây những con đập dòng chính bất chấp những tác hại tiêu cực xuyên biên giới đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long ra sao.   

 

Không chỉ Trung Quốc lưu giữ 40 tỉ mét khối nước hay 53% vũ lượng hàng năm của lưu vực Lancang-Mekong; Lào cũng cất giữ 30 tỉ mét khối  nước hay 18% vũ lượng hàng năm của lưu vực dưới Sông Mae Nam Khong, tên khúc Sông Mekong trên đất Lào. Cũng phải kể ảnh hưởng tác hại của hệ thống đập thủy điện phụ lưu của Lào đối với hai quốc gia dưới nguồn là Cambodia và Việt Nam rất đáng kể kể đối với tình trạng dòng chảy, lượng phù sa và nguồn cá trong lưu vực sông Mekong.

 

Hình 3: Nam Ngum, con đập thủy điện phụ lưu đầu tiên của Lào 1971, 
biểu ngữ giăng ngang con đập đánh dấu 25 năm thống nhất nước Lào [photo by Ngô Thế Vinh 2000]

 

 

Quan điểm từ Cambodia: Hun Sen, Thủ tướng lâu năm nhất của Cambodia và của cả thế giới, đã luôn luôn phủ nhận ảnh hưởng tác hại của các con đập thủy điện thượng nguồn đối với dòng chảy Sông Tonle Thom (tên Cambodia của con Mekong) và chấp nhận vô điều kiện kế hoạch xây đập của Trung Quốc trên thượng nguồn, cho dù chính sách ấy đi ngược với tất cả tiếng nói của các nhà bảo vệ môi sinh và ngót 70 triêu cư dân ven sông.  

 

 

 

Hình 4: Diện tích Biển Hồ Tonle Sap co giãn với hai mùa Mưa Nắng: Mùa Khô (trái) là hồ cạn chỉ với diện tích 2,500 km2; Mùa Mưa (phải), khi bước vào tháng 5 đến tháng 9, do nước con Sông Mekong dũng mãnh đổ về, khiến con Sông Tonle Sap đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ làm nước hồ dâng cao hơn từ 8 tới 10 mét và tràn bờ và làm ngập các khu Rừng Lũ / Flood forest, diện tích Biển Hồ tăng gấp 5 lần hơn, khoảng 12,000 km2. [nguồn: Tom Fawthrop]

 

 

Rất sớm, từ tháng 7 năm 2005,  Thủ tướng Hun Sen, khi sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con Sông Mekong, theo ông chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, ông còn cho rằng các ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ họ chú ý tới môi sinh, và họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia. (Hunsen backed China's often-criticized development plans for the Mekong River, AFP Phnom Penh, June 29, 2005)

 

Năm năm sau, tháng 11 năm 2010,  TT Hun Sen, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS* ở Phnom Penh, đã lên tiếng bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy Sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán là hậu quả của thay đổi khí hậu / climate change chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc. (The Phnom Penh Post, Nov 17, 2010)

 

Trái hẳn với nhận định của TT Hunsen, cần nên ghi lại nơi đây những sự kiện phải nói là bi quan, liên quan tới Biển Hồ, Sông Tonle Sap và con Sông Mekong ngay trong thập niên đầu của thế kỷ 21: 

 

Trên trang web World Wide Fund for Nature, đã ghi nhận: mực nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. “Trung Quốc làm kiệt mạch sống sông Mekong_ New Scientist”; “Sông Mekong cạn dòng vì các con đập Trung Quốc_ Reuters AlertNet”; “Xây đập và con sông chết dần_ The Guardian”; “Sông cạn do các con đập Trung Quốc_ Bangkok Post”. Hầu hết đều mạnh mẽ quy trách cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc trên khúc sông thượng nguồn. 

 

Theo Fred Pearce, tác giả cuốn sách “Khi Những Con Sông Cạn Dòng, Nước – Khủng Hoảng của Thế Kỷ 21” xuất bản 2006, trong chương viết về con sông Mekong, đã có ghi nhận:

 

... “Cuối năm 2003 và đầu năm 2004 là thời gian tuyệt vọng trên Biển Hồ. Cơn lũ về thấp hơn. Thời điểm con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ đến trễ hơn và cũng chấm dứt sớm hơn. Thay vì 5 tháng con sông đổi dòng nay chỉ còn có 3 tháng. Rừng lũ thiếu ngập lũ và cá thì không đủ thời gian để tăng trưởng... Và mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp như vậy. Tại sao? Đa số ngư dân đổ tại con sông cạn dòng. Khi con nước cạn trước Hoàng cung, thì sẽ không có cá dưới sông.”

 

Không ai tin rằng, ông Thủ tướng Hun Sen lại có thể không biết tới “Hồi Chuông báo Tử” ấy, nhưng ông Hun Sen đã cố tình phủ nhận điều này do nhu cầu chính trị ngắn hạn “lấy lòng Trung Quốc” trong thời gian cầm quyền. Nhưng rồi ra, cái giá rất cao phải trả sẽ là tương lai của dân tộc Cam Bốt và cả nền văn minh xứ Chùa Tháp.

 

 

Hình 5: Biển Hồ thiếu nước ghe mắc cạn, Anh Tư Tiến phải nhẩy xuống lội nước cho ghe nhẹ bớt không bị đụng đáy… Do ảnh hưởng chuỗi đập thủy điện thượng nguồn, Biển Hồ đang bị co cụm và ngày một cạn dần [nguồn: hình của Tưởng Năng Tiến]

 

Mới đây, tháng 10, 2017 TT Hun Sen khi  chủ trì lễ khánh thành đập thủy điện Hạ-Sesan-2 ở Stung Treng, với công suất 400 MW và  diện tích hồ chứa 340 km2 gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singapore trở thành con  đập lớn nhất trong số  7 đập thủy điện của Cambodia do Công ty Hydrolancang của Trung Quốc nắm 51% cổ phần, Tập đoàn Hoàng gia Cambodia nắm 39% cổ phần và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nắm 10% cổ phần, và đáng nói là  nguồn điện của đập Hạ-Sesan-2 sẽ được xuất cảng sang Việt Nam.

 

Quan điểm từ Việt Nam:  một Việt Nam vừa thỏa hiệp vừa bị động từ 1975, 1995 và cho tới nay. Việt Nam cũng đã xây các hồ chứa đập thủy điện trên các phụ lưu Sông Mekong trên cao nguyên Trung phần, như con đập Yali 720 MW (1996) trên sông Krong B’Lah ranh giới 2 tình Kontum và Gia Lai; các con đập khác trên sông