Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Nói không với dự án Cái Lớn, Cái Bé – Đi tìm các giải pháp phi công trình cho Đồng bằng Sông Cửu Long

October 5, 2018

Lời giới thiệu: Thời gian gần đây, trước những tin tức thời sự về sách giáo khoa và chính trị, ít ai chú ý đến một siêu dự án có thể gây tác động khôn lường đến Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): đó là dự án xây đập sông Cái Lớn và Cái Bé (Kiên Giang). Nhưng có một người ở nước ngoài lúc nào cũng đau đáu nghĩ về sông Cửu Long: đó là Nhà văn Bs Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn sách nổi tiếng "Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng".  Trong bài viết dưới đây, Bs Ngô Thế Vinh chỉ ra những tác hại có thể thấy trước được nếu siêu dự án này thành hiện thực.

 

Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất quan trọng của Việt Nam và Á châu. Với 18 triệu dân ở vùng này, mỗi năm xuất khẩu trị giá trên dưới 16 tỉ USD, và con số này tăng 6-7% mỗi năm. Số lượng gạo xuất khẩu từ ĐBSCL (gần 5 triệu tấn) chiếm 95% tổng số lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy dân số ĐBSCL chiếm 22% tổng dân số cả nước, nhưng GDP của vùng chiếm 27% GDP của cả nước.

 

Tuy nhiên, có thể nói không ngoa rằng ĐBSCL đang 'lâm nguy'. Việc canh tác càng ngày càng khó khăn, thu nhập từ làm ruộng bị suy giảm mỗi năm, nên nông dân dần dần bỏ ruộng đi làm công nhân. Hạn hán kéo dài và nước mặn xâm nhập làm cho có năm hơn 500,000 ha không thể canh tác và 575,000 người thiếu nước ngọt. Thêm vào đó là sức ép dân số cùng với việc sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi dẫn đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm sông nước hết sức nghiêm trọng. Nhà tôi ở ven sông vốn là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn, ngày xưa cá tôm tràn đầy, nhưng ngày nay thì chẳng còn bao nhiêu, và thay vào đó là rác rưởi đầy sông, không ai dám tắm sông vì nước sông bị ô nhiễm ghê gớm. Có thể nói rằng những con sông ở vùng ĐBSCL đã và đang chết dần.

 

Do đó, nhà chức trách phải có hành động để 'giải cứu' ĐBSCL. Biện pháp các nhà chức trách nghĩ đến là xây đập thuỷ lợi trên sông Cái Lớn và Cái Bé. Sông Cái Lớn rộng 500-650 m và sâu 12-14 m; sông Cái Bé nhỏ hơn phân nửa sông Cái Lớn; hai sông này đem nước mặn vào bán đảo Cà Mau và Vị Thanh. Do đó, trên lí thuyết, mục đích của đập sông Cái Lớn và Cái Bé là điều tiết nước mặn, ngọt cho phù hợp với mùa vụ địa phương.

 

Mới nghe qua về mục đích thì cũng có lí, nhưng trong thực tế thì phức tạp hơn nhiều, và dự án này đã gặp phải nhiều phản đối gay gắt từ giới khoa học. Những quan tâm mà giới khoa học nêu lên là: (i) đập sẽ làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của nước, gây tác hại đến phù sa và thuỷ sản; (ii) đập sẽ làm cho tình trạng ô nhiễm càng trầm trọng và nguy hiểm hơn; và do đó (iii) sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế của các nước và cuộc sống của người dân trong vùng.

 

Biện pháp xây đập mang tính chắp vá hơn là theo một kế hoạct tổng thể cho toàn vùng. Thật vậy, tỉnh Kiên Giang chỉ là một tỉnh trong số 13 tỉnh thành; do đó, xây đập ở đây có thể giải quyết một vấn đề cho tỉnh, nhưng lại gây tác hại cho các nơi khác (hay thậm chí ngay trong tỉnh). Cần nói thêm rằng trước đây đã có cống đập Ba Lai (xây năm 2002) và công trình Quản Lộ - Phụng Hiệp (1990), nhưng cả hai công trình này đều chẳng đem lại lợi ích cho ĐBSCL nói chung. Giáo sư Võ Tòng Xuân chỉ ra rằng ở Hà Lan trước đây người ta cũng xây đập để giữ ngọt và ngăn mặn, nhưng vì gặp qúa nhiều tác hại và gây ô nhiễm môi trường, nên họ cũng phải phá bỏ để khai thông dòng chảy tự nhiên. Ấy vậy mà ngày nay, nhà chức trách lại đi theo vết xe đổ của người khác!

 

Dự án xây đập sông Cái Lớn và Cái Bé có giá trị hơn 3300 tỉ đồng (khoảng 165 triệu USD), nhưng đọc báo cáo dài gần 400 trang về tác động môi trường tôi phải nói là quá sơ sài. Báo cáo có nhiều chất liệu cảm tính và duy ý chí hơn là khoa học. Khó thấy những dữ liệu từ nghiên cứu khoa học trong báo cáo. Nếu có thì nguồn số liệu không rõ ràng, hoặc lạc hậu. Không thấy những công trình nghiên cứu mô phỏng "what if" (việc gì xảy ra) trong báo cáo về tác hại đến ô nhiễm môi trường và tác hại đến nông thuỷ sản. Phần dự báo về ô nhiễm (3 trang) vô cùng sơ sài và chẳng có cơ sở khoa học nào cả. Đọc báo cáo này, ai cũng có thể thấy rõ ràng rằng dự án có thể ví von như được "xây dựng trên cát", vì thiếu những nghiên cứu khoa học trước đó. Do đó, đứng trên quan điểm khoa học, dự án này không có cơ sở khoa học vững chắc.

 

Bất cứ can thiệp nào vào thiên nhiên cũng đều có thể đem lại lợi ích và tác hại. Vấn đề là tìm một biện pháp can thiệp đem lại lợi ích nhiều hơn tác hại. Nhìn vào những con đập hiện nay, chúng ta có thể dự báo rằng quyết định xây dựng đập trên sông Cái Lớn và Cái Bé có thể gây tác động đến môi sinh, xã hội và kinh tế của gần 20 triệu người, và ảnh hưởng tiêu cực đến vựa lúa lớn nhất của Á châu. Một quyết định như thế cần phải dựa trên luận cứ khoa học, chứ không thể dựa trên ý chí chủ quan. Hãy dừng ngay dự án, và bắt đầu làm nghiên cứu khoa học để đánh giá lợi và hại của các con đập hiện nay và trong tương lai.

 

NVT

 

===============

 

 

Nói không với dự án Cái Lớn, Cái Bé – Đi tìm các giải pháp phi công trình cho Đồng bằng Sông Cửu Long

 

Ngô Thế Vinh | 3-10-2018

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

và 18 triệu Cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long  

 

Bây giờ chính sách phát triển thủy lợi của Việt Nam phải được chuyển đổi theo sự chuyển hướng của nông nghiệp, không thể theo mục tiêu cũ để tiếp tục tăng sản lượng lúa thông qua thâm canh nông nghiệp mà phải theo mục tiêu cải thiện sinh kế của nông dân thông qua đa dạng hóa cây trồng và canh tác tổng hợp. Nhưng rất tiếc các nhóm lợi ích vẫn bám mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quí hiếm từ Sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án Sông Cái Lớn – Cái Bé (CLCB). Nhóm lợi ích luôn có thế lực mạnh, để được duyệt dự án thì họ mới có ăn, mặc kệ dân trồng lúa cứ nghèo.” [Trao đổi cá nhân giữa GS Võ Tòng Xuân và Ngô Thế Vinh, qua một eMail ngày 16.09.2018]

 

 

Hình 1: trên và dưới, phối cảnh tổng thể Cống Cái Lớn, Cống Cái Bé, được mệnh danh là Công trình Thế Kỷ: hệ thống vĩnh cửu cống ngăn mặn CLCB, nếu thực hiện, theo ý kiến của các chuyên gia độc lập thì không những rất tốn kém (hơn 3 ngàn tỉ đồng) và  không cần thiết, lại có nhiều rủi ro tiềm ẩn, huỷ hoại rộng rãi cả một hệ sinh thái mong manh của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Một dự án từ Bộ NN & PTNT hoàn toàn đi ngược với tinh thần Nghị Quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu do TT Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành ngày 17.11.2017 trong đó nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.” (1,2)

 

NHỮNG CÔNG TRÌNH THẤT BẠI Ở ĐBSCL: CÓ BÀI HỌC NÀO ĐƯỢC RÚT RA HAY AI NHẬN TRÁCH NHIỆM

 

Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ trên toàn hệ sinh thái lưu vực Sông Mekong do những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc, tới chuỗi 9 con đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và quan trọng nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần tan rã. Đồng bằng đang tan rã theo các bờ sông và sạt lở dọc theo duyên hải Biển Đông.

 

Với những mối hoạ từ thượng nguồn, thực tế cho thấy Việt Nam đã không thể làm gì được. Tuy là một quốc gia cuối nguồn, Việt Nam đã không thể ngăn cản được một dự án thuỷ điện phía thượng nguồn lưu vực Mekong nào cả, đó là chưa kể Việt Nam còn thúc đẩy quá trình ấy thông qua việc xây dựng nhà máy thuỷ điện ở Lào và Cambodia và gần đây nhất là mua điện từ Lào. Kể từ ngày Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm phạm phải một sai lầm chiến lược khi đặt bút ký Hiệp định Uỷ hội Sông Mekong / Mekong River Commission năm 1995 từ bỏ quyền phủ quyết / veto vốn đã có trong Hiệp ước Uỷ Ban Sông Mekong / Mekong River Committee năm 1957 từ thời Việt Nam Cộng Hoà.

 

Và mọi người chắc vẫn không quên sự kiện nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải  kêu gọi Trung Quốc xả nước từ đập thuỷ điện Cảnh Hồng / Jinhong Dam Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL trong những ngày cuối tháng 03 năm 2016.

 

Nhưng còn phải kể tới những công trình phát triển tự huỷ / self-destructive development ngay nơi ĐBSCL trong bốn thập niên qua với những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên tài nguyên và sự sống còn của cả một vùng châu thổ cuối nguồn Sông Mekong. Điển hình có thể kể, từ sau 1975:

 

_ Xây đê đắp đập chắn lũ hệ thống đê bao để mở rộng khu làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên khu Tứ Giác Long Xuyên và vùng trũng Đồng Tháp Mười.

 

_ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL điển hình là 2 dự án lớn: Ngọt hoá Bán Đảo Cà Mau và Công trình Cống đập Ba Lai.

 

NGỌT HOÁ BÁN ĐẢO CÀ MAU: MỘT ĐIỂN HÌNH HỐI TIẾC

 

Công trình Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ đầu thập niên 1990 với vốn 1,400 tỉ đồng vay từ World Bank/ Ngân hàng Thế giới. Trong suốt giai đoạn 1990 đến năm 2000, hàng trăm cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được rộng rãi đầu tư. Theo tính toán – trên lý thuyết của ngành thủy lợi thuộc Bộ NN & PTNT, hệ thống đưa nước ngọt từ Sông Hậu về Bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, chủ yếu trồng lúa, cho 70,000 ha đất của tỉnh Bạc Liêu, 50,000 ha đất của Cà Mau và 66,000 ha đất của Kiên Giang.

Hình 2: Bản đồ hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt nơi vùng châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nguồn: Amir Hosseinpour (ZEF), trích dẫn bởi Simon,2014 (6)

 

Hình 3: Bản đồ Quy hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo Cà Mau. (6)

 

Với những hậu quả là: Về khía cạnh công trình, do các cống ngăn mặn đã gây cản trở giao thông trên sông rạch nên phải làm thêm những công trình khác như âu thuyền Tắc Thủ, được xây từ năm 2001 tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc hai huyện Thới Bình và U Minh, Cà Mau với kinh phí gần 80 tỉ đồng nữa. Công trình này do Cty CP Tư vấn XD Thủy lợi II thiết kế và xây dựng. Âu thuyền Tắc Thủ [Hình 4] sau khi hoàn thành năm 2006, đã chứng tỏ không những là vô dụng, mà còn gây thêm  cản trở giao thông. Cho đến nay, hầu như không ai chịu trách nhiệm về kế hoạch thất bại và đầu tư lãng phí này. (6)

 

 

Hình 4: Âu thuyền Tắc Thủ do Cty CP Tư vấn XD Thủy lợi II thiết kế và xây dựng từ 2001 tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, Cà Mau, với kinh phí gần 80 tỉ đồng nhưng sau khi hoàn thành năm 2006, đã chứng tỏ là vô dụng, mà còn gây thêm cản trở giao thông. Photo by Nguyễn Kiến Quốc (6)

 

Về khía cạnh hệ sinh thái, do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, nên sự kết nối hữu cơ giữa hệ sinh thái sông-biển với thủy triều từ biển là hoàn toàn bị triệt tiêu trong thời gian cống bị đóng. Và khi mở cống, ô nhiễm tích luỹ lại theo dòng nước lan toả huỷ diệt sinh cảnh và nguồn thuỷ sản nơi cửa sông và vùng cận duyên.

 

Phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước rong nước kém cho chu kỳ rằm mỗi nửa tháng. Khi chưa có cống đập, thủy triều trong sông rạch vùng Bán đảo Cà Mau tuy không đều nhưng có khi biên độ cao đến gần 2 mét. Do các cống đóng suốt mùa khô, nên khúc sông bên trong trở thành hồ nước tù đọng khiến tình trạng ô nhiễm gia tăng. Rác rưởi từ nguồn phế thải gia cư, cộng thêm với các độc chất phục vụ trồng lúa như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón hoá học tràn xuống tích tụ dày đặc. [Hình 5]

 

 

Hình 5: ở những nơi dòng sông không chảy, ĐBSCL dày đặc ô nhiễm và sinh cảnh thì đang chết dần. Photo by Ngô Thế Vinh 12.2017

 

Và theo Nhóm Nghiên Cứu Mekong từ ĐH Cần Thơ (6), hệ thống các cống chặn mặn làm mất nguồn năng lượng dòng chảy nước ngọt từ phía thượng nguồn (mũi tên màu xanh) và năng lượng thuỷ triều đem dòng nước mặn từ biển vào (mũi tên màu đỏ) khiến môi trường tự nhiên của ĐBSCL không còn được tẩy rửa hàng ngày (con nước lớn- con nước ròng), hàng tháng (con nước rong- con nước kém), và hàng năm (mùa nước nổi- mùa nước cạn) như trước kia. Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước rất thấp khiến sông rạch mất cả khả năng tự làm sạch nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa. [Hình 6]

 

Hậu quả ô nhiễm là nước trong các sông rạch đổi sang màu đen, bốc mùi hôi thối do các chất hữu cơ phân hủy; và nguồn nước trong các vùng thủy lợi không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, kể cả sinh hoạt tắm giặt hàng ngày. Người dân nay phải sống bằng nước ngọt bơm từ những giếng ngầm, nguồn nước ngầm này cũng ngày một hạ thấp và có nơi cư dân đã phải khoan đến độ sâu 80 – 120 mét để tới được nguồn nước ngọt. Nhu cầu khai thác tầng nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần hơn nước biển dâng. (6)

 

Hình 6: nhờ năng lượng dòng chảy nước ngọt từ phía thượng nguồn (mũi tên màu xanh) và năng lượng dòng nước mặn từ biển (mũi tên màu đỏ) mà môi trường tự nhiên của ĐBSCL được tẩy rửa hàng ngày (con nước lớn-ròng), hàng tháng (con nước rong-kém), và hàng năm (mùa nước nổi-cạn). Nguồn nước này cũng giúp cho nước chảy được trong các kênh rạch vì địa hình ĐBSCL quá bằng phẳng. (6) Những cống đập ngăn mặn của Bộ NN & PTNT đang “khai tử”dòng chảy và nhịp đập / Mekong Delta Pulse của hệ sinh thái ĐBSCL.

 

Về khía cạnh tài nguyên, nguồn thủy sản cũng là nguồn chất đạm/ protein quan trọng trong mỗi bữa ăn với tô cá chén cơm của cư dân ĐBSCL bị sút giảm nghiêm trọng: các loài cá trắng của nước chảy có nguy cơ bị tiêu diệt do dòng sông bị chặn bởi các cống đập, chỉ còn lại các loài cá đen nước tù của ao hồ  như cá lóc, cá trê, cá rô phi… Đây là hậu quả tất yếu khi mà hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái ao hồ (lacustrine environment) (Nguyễn Hữu Thiện, 2018).

 

Do môi trường nước cực kỳ ô nhiễm, lại thêm, lục bình phát triển tràn lan phủ kín cả mặt thoáng sông rạch khiến ghe tàu đi lại rất khó khăn nên nhiều nơi người dân đã phải phun thuốc diệt cỏ trên lớp lục bình nhằm khai quang thuỷ lộ khiến nước sông càng ô nhiễm thêm nữa; [Hình 7] và do thiếu nguồn chất đạm từ tôm cá và các loài thuỷ sản khác đã ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng, trẻ em có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.