"Alexandre Yersin Award for outstanding medical publication"

Hội Y khoa Thụy Sĩ - Việt Nam (HELVIETMED) hân hạnh thông báo 4 nhà khoa học được trao giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc. Các nhà khoa học được trao giải là Bs. Vương Ngọc Lan và cộng sự, thuộc Trường Đại học Y Dược TPHCM; Bs Hà Tấn Đức, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ; Bs Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự thuộc Đại học Tôn Đức Thắng; và Bs Ngô Tất Trung và cộng sự thuộc Bệnh viện 108, Hà Nội. Mỗi nhóm khoa học sẽ được trao 30 triệu đồng và một chứng nhận về thành tựu nghiên cứu.

Giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc là một sáng kiến của HELVIETMED để ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam cho y văn quốc tế. Qua công bố quốc tế, họ giúp xây dựng uy danh của Việt Nam trong cộng đồng khoa học thế giới. Một mục tiêu khác của Giải thưởng Alexandre Yersin là cổ vũ hợp tác nghiên cứu cấp quốc gia và quốc tế nhằm cải thiện phẩm chất chăm sóc bệnh nhân. Giải thưởng đầu tiên được trao cho những công trình đã công bố trong 5 năm qua.

Mỗi công trình nghiên cứu được đánh giá qua 5 tiêu chuẩn: phẩm chất khoa học, tầm ảnh hưởng trong lâm sàng, ảnh hưởng trong khoa học, tính cách tân, và uy danh của tập san khoa học. Giải thưởng Alexandre Yersin chỉ dành cho công trình nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam bởi nhà khoa học Việt Nam chủ trì. Hội đồng thẩm định bao gồm 7 giáo sư và bác sĩ từ Thụy Sĩ, Pháp, và Úc, dưới sự chủ trì của tôi. (Dĩ nhiên, tôi không tham gia đánh giá các công trình tôi có liên quan gián tiếp hay trực tiếp).

Lễ trao giải thưởng đã được tổ chức ở Khách sạn Prince (Sài Gòn) vào ngày 27/7/2017. Tôi có vinh hạnh tham gia buổi lễ thân mật nhưng trang trọng. Ngoài những ý nghĩa khoa học, tôi nghĩ giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication (AYOP) còn mang nặng nghĩa tình.

Nghĩa tình của các đồng nghiệp trong y giới ở nước ngoài, mà cụ thể là Thuỵ Sĩ, với các đồng nghiệp trong nước. Các bác sĩ và nhà khoa học ở Thuỵ Sĩ dù đã thành danh vẫn nghĩ về quê nhà và các đồng nghiệp bên nhà. Họ ngồi lại với nhau, đóng góp tài chánh, và thiết lập một giải thưởng đầy ý nghĩa. Ý nghĩa khoa học là nâng cao năng lực khoa học ở trong nước, xiển dương những công trình nghiên cứu vừa cách tân vừa có ảnh hưởng. Ở nước ngoài chúng tôi không làm được, nhưng các bạn ở trong nước làm được, và chúng tôi muốn khuyến khích, ghi nhận, xiển dương và ... vỗ tay. Tình nghĩa là vậy.

Giải thưởng tuy không có giá trị bạc triệu, nhưng tấm lòng của các bạn Thuỵ Sĩ là bạc tỉ, giống như lá cờ Chữ Thập Đỏ của Thuỵ Sĩ vậy.

Tôi là “người ngoài” (hiểu theo nghĩa là dân Úc) nhưng hoá ra lại là người trong cuộc. Khi các bạn ấy mời tôi tham dự trong vai trò “chair” cho giải thưởng, tôi vừa thấy cái hay vừa ngạc nhiên. Ngạc nhiên là vì cộng đồng y khoa gốc Việt bên Thuỵ Sĩ không đông như bên Mĩ hay Úc, nhưng họ có ý tưởng rất tiền phong. Thế là tôi vinh hạnh góp một tay cùng các đồng nghiệp bên Thuỵ Sĩ để bày tỏ một tấm lòng đến các bạn trong nước qua giải AYOP.

Các bạn được trao giải thưởng ngày hôm qua đều là những tấm gương. Tấm gương tận tuỵ với khoa học và hợp tác khoa học. Đáng lí ra tất cả các bạn đều được giải, nhưng vì tài lực có hạn nên chỉ chọn được các bạn đại diện. Các bạn là đại diện cho khoa học Việt Nam ngày hôm nay và tương lai. Nói ra thì có vẻ to tát, nhưng sự thật là vậy. Một lần nữa, xin chúc mừng các bạn đã được chọn trao giải!

Vài hình ảnh hôm trao giải thưởng ở Sài Gòn (27/7/2018):

MC khai mạc buổi lễ trao giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication

Ông Tổng lãnh sự Thuỵ Sĩ Othmar Hardegger phát biểu khai mạc.

Bác sĩ Nguyễn Quân-Vinh, chủ tịch Hội Y khoa Thuỵ Sĩ - Việt Nam phát biểu.

Tôi trong tư cách chair của hội đồng phát biểu về tiêu chuẩn của giải thưởng.

Bs Hồ Mạnh Tường nhận giải thưởng cho công trình được công bố trên Tập san New England Journal of Medicine.

Bác sĩ Hồ Phạm Thục Lan nhận giải thưởng cho công trình trên Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism

Bác sĩ Hà Tấn Đức và PGS Phạm Thị Ngọc Thảo nhận giải thưởng cho công trình trên Nature Scientific Reports.

Tiến sĩ Ngô Tất Trung và PGS Lê Hữu Song (bệnh viện 108) nhận giải thưởng cho công trình trên BMC Infectious Diseases.

Ông tổng lãnh sự nói lời cám ơn tôi.

Chụp hình kỉ niệm với một số bác sĩ đến tham dự buổi lễ trao giải.

Tóm lược các công trình nghiên cứu được trao giải

Bs. Vương Thị Ngọc Lan và đồng nghiệp: Thụ tinh trong ống nghiệm: Chuyển phôi tươi và chuyển phôi đông lạnh có hiệu quả như nhau (New England Journal of Medicine 2018;378:137-147)

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện thành công đầu tiên trên giới vào năm 1978. Có hai cách để thực hiện TTTON: chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Trước đây, có quan điểm cho rằng đông lạnh phôi có thể dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, và do đó, chuyển phôi tươi thường được ưa chuộng trong TTTON. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chuyển phôi tươi hay đông lạnh phôi có hiệu qua hơn.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu ở Bệnh viện Mỹ Đức kết hợp với các nghiên cứu viên từ Đại học Y Dược TPHCM và Đại học Adelaide (Úc) đã thực hiện một nghiên cứu lâm sàng đối chứng để so sánh hiệu quả thụ tinh giữa chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Nghiên cứu được thực hiện trên 782 phụ nữ, và họ được chia thành hai nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm chuyển phôi tươi (391 phụ nữ) bà nhóm đông lạnh phôi (391 phụ nữ).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ sinh [còn sống] trong nhóm chuyển phôi tươi là khoảng 35%, và nhóm đông lạnh phôi là 36%. Nói cách khác, tỉ lệ trẻ sinh giữa hai nhóm tương đương nhau. Tuy nhiên, nhóm chuyển phôi tươi có thời gian có thai sớm hơn 1 tháng so với nhóm đông lạnh phôi. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tập san New England Journal of Medicine, một trong những tập san y học uy tín nhất trên thế giới hiện nay.

Ý nghĩa của nghiên cứu là việc chuyển phôi tươi và trữ lạnh phôi có hiệu quả như nhau. Do đó, các cặp vợ chồng hiếm muộn không cần chuyển nhiều phôi tươi một lúc mà có thể giảm số phôi chuyển xuống, số còn dư được đông lạnh để sử dụng sau đó, tránh việc phải kích thích buồng trứng trở lại nếu thất bại. Ngoài ra, việc giảm số phôi chuyển cũng giúp giảm biến chứng đa thai, hạn chế các biến chứng trong thai kỳ, sức khỏe của mẹ và bé. Ngược lại, các bác sĩ cũng không nên bỏ việc chuyển phôi tươi vì sẽ làm kéo dài thời gian từ bắt đầu điều trị đến có thai của bệnh nhân. Mỗi năm trên thế giới có hơn 2 triệu cặp vợ chồng làm TTTON. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng, góp phần làm thay đổi phác đồ TTTON trên thế giới.

Bs Hà Tấn Đức và đồng nghiệp: Xây dựng mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cấp cứu (Scientific Reports 2017;7:46474)

Khoa cấp cứu tại các bệnh viện Việt Nam thường xuyên bị quá tải do số lượng bệnh nhân đông, bệnh lý đa dạng, và thiếu nhân lực phục vụ. Bệnh nhân cấp cứu thường có nguy cơ tử vong cao; những bệnh nhân còn sống có nguy cơ biến chứng cao. Một trong những khó khăn và thách thức là làm thế nào để nhận ra những bệnh nhân có nguy cơ cao để ưu tiên hóa điều trị và giảm tử vong. Mặc dù các bác sĩ có kinh nghiệm cao có thể nhận dạng bệnh nhân có nguy cơ cao, nhưng đánh giá của họ thường không nhất quán và thiếu chính xác.

Bác sĩ Hà Tấn Đức và đồng nghiệp (Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ) đã thực hiện một nghiên cứu vừa công phu vừa qui mô để xác định các yếu tố có liên quan đến tử vong, và từ đó xây dựng mô hình tiên lượng. Nghiên cứu được thực hiện trên 2175 bệnh nhân cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày là khoảng 10%. Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm: giới tính (nam), tăng tần số hô hấp, tăng urea trong máu, giảm độ bão hòa oxy, và chỉ số hôn mê. Dựa trên các yếu tố ngày, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình tiên lượng. Họ áp dụng mô hình tiên lượng trên một nhóm 2060 bệnh nhân thuộc Bệnh viện Đa Khoa Thành phố Cần Thơ, và kết quả cho thấy mô hình tiên lượng chính xác khoảng 80%. Công trình nghiên cứu được công bố trên tập san Scientific Reports (thuộc tập đoàn Nature).

Công trình nghiên cứu này là một đóng góp quan trọng cho y văn bệnh nhân cấp cứu. Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng một mô hình tiên lượng cho bệnh nhân Việt Nam để nhận dạng các bệnh nhân có nguy cơ cao cần điều trị tích cực nhằm giảm tử vong. Công trình này cũng thể hiện một đóng góp đầu tiên của Việt Nam trong y văn về hồi sức cấp cứu.

Bs Hồ Phạm Thục Lan và đồng nghiệp: Ảnh hưởng của lượng mỡ và lượng cơ đến loãng xương (Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism 2014, 99(1):30–38).

Mật độ xương (BMD) là một yếu tố rất quan trọng cho tiên lượng gãy xương, và vì thế BMD được dùng để chẩn đoán loãng xương bệnh lý loãng xương. Trọng lượng cơ thể là một yếu tố có ảnh hưởng đến mật độ xương (BMD). Người có cân nặng cao thường có BMD cao và ít bị loãng xương. Nhưng trọng lượng cơ thể chủ yếu được cấu thành bởi lượng cơ và lượng mỡ. Câu hỏi "nóng" trong chuyên ngành loãng xương là yếu tố nào -- lượng cơ hay lượng mỡ -- có ảnh hưởng đến BMD. Hai mươi năm qua, câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng trong y văn.

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã thực hiện một loạt 3 nghiên cứu, gồm 2 nghiên cứu nguyên thủy trên hơn 2000 người Việt và 1 nghiên cứu tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng cơ có tác động đến BMD cao hơn là lượng mỡ. Phát hiện này (lượng cơ đóng vai trò quan trọng hơn lượng mỡ) nhất quán trên cả hai giới tính và cho cả người da trắng lẫn người châu Á.

Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng, vì tăng cường hoạt động thể lực là một biện pháp quan trọng trong việc phòng chống loãng xương và ngăn ngừa mất xương. Qua nghiên cứu này, có thể nói rằng, chúng tôi đã giải đáp một câu hỏi vốn là đề tài tranh luận suốt 20 năm qua. Công trình được công bố trên tạp chí hàng đầu trong chuyên ngành nội tiết là Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism năm 2014 và đã được trích dẫn 114 lần (theo Google Scholar).

Ts Ngô Tất Trung và đồng nghiệp, Tối ưu hóa phương pháp PCR cho việc chẩn đoán nhiễm trùng máu (BMC Infectious Diseases 2016;16:235)

Nhiễm trùng máu là bệnh lý truyền nhiễm cấp tính có tỷ lệ tử vong cao. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 28-31 triệu người mắc nhiễm trùng máu, trong đó có khoảng 8 triệu tử vong. Để điều trị kịp thời, việc xác định được mầm bệnh sớm là rất quan trọng. Cho đến nay, việc xác định mầm bệnh dựa vào phương pháp cấy máu. Tuy nhiên, phương pháp cấy máu có nhược điểm là tốn kém thời gian (2 ngày đến 7 ngày), luợng máu cần thiết để cấy khá cao, và khó tối ưu hóa điều kiện cấy máu.

Một giải pháp có tiềm năng thay thế phương pháp cấy máu là dùng kỹ thuật phản ứng chuỗi (polymerase chain reaction – PCR) để khuếch đại đặc hiệu các trình tự DNA cho từng vi trùng hay vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, một khó khăn đáng kể trong việc áp dụng PCR trong chẩn đoán nhiễm trùng máu là sự hiện diện của hàm lượng DNA của bệnh nhân dẫn đến kết quả dương tính giả và âm tính giả.

Ts Ngô Tất Trung và nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã khắc phục sự hạn chế đó bằng cách tạo ra một chất trung gian (tạm gọi là "dung môi") giúp loại bỏ 99,9% dung lượng DNA từ bệnh nhân, và do đó tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp chẩn đoán. Với phương pháp mới của nhóm nghiên cứu, khả năng xác định mềm bệnh chính xác hơn và nhạy hơn phương pháp PCR thông thường. Ngoài ra, ưu điểm của phương pháp mới là giảm thời gian chẩn đoán xuống còn chỉ 6 giờ.

Phát kiến và nghiên cứu đã được công bố trên tập san BMC Infectious Diseases năm 2016. Đây là một phát kiến đem lại lợi ích trực tiếp cho bệnh nhân. Công trình nghiên cứu còn thể hiện một đóng góp quan trọng trong y văn quốc tế.

Featured Posts
Recent Posts
Archive
Search By Tags
Follow Us
  • Facebook Basic Square
  • Twitter Basic Square
  • Google+ Basic Square

Opinions expressed are my own and not the views of my employers

© 2018 Tuan V Nguyen

  • RG
  • Twitter Social Icon
  • LinkedIn Social Icon