October 30, 2019

Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Đồng bằng sông Cửu Long và những phát triển tự huỷ hoại

May 1, 2018

 

Nói đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thì có nhiều cái nhìn và quan điểm trái chiều. Nhìn từ ngoài và nhìn bao quát thì vùng đất này có phát triển, nổi bật nhất là tăng lượng xuất khẩu nông thuỷ sản do làm lúa nhiều vụ mùa. Mỗi năm vùng ĐBSCL xuất khẩu trị giá hơn 12 tỉ USD, tương đương số tiền “Việt kiều” gửi về VN hàng năm. Nhiều người trong giới kĩ thuật thì xem thuỷ lợi là một phát triển ngoạn mục, đóng góp vào việc tăng mùa vụ và sản lượng lúa. Những phát triển đó đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho người dân. Đó là một ‘bức tranh’ mà nhà nước và những quan chức kĩ thuật muốn tô vẽ cho vùng ĐBSCL. Ngay cả nhạc sĩ Lam Phương, tác giả “Khúc ca ngày mùa”, cũng khó có thể miêu tả một bức tranh đẹp hơn.

 

Thế nhưng nhìn chi tiết hơn và quan sát cuộc sống của người dân tại miền quê (thay vì qua con số) lại cho ra một bức tranh khác: người dân vẫn nghèo. Nghèo nhất nhì nước. Không chỉ nghèo mà còn “thiếu chữ”, kém học. Thanh niên bỏ ruộng đồng đi tha hương làm công nhân trong các khu kĩ nghệ; thanh nữ thì bỏ nước làm dâu xứ người, gây mất cân bằng cơ cấu dân số trong miền quê. Tại sao? Tại vì những thu nhập bạc tỉ USD từ xuất khẩu lúa gạo không về đến người nông dân mà về tay những con buôn — những con buôn ngồi trong phòng máy lạnh, những con buôn dưới danh nghĩa tập đoàn không hẳn vì lợi ích của nông dân. Tại vì nguồn sống ở vùng đất này càng ngày càng cạn kiệt. Sông ngòi ô nhiễm nghiêm trọng và là mối đe doạ lớn nhất đến sức khoẻ trong tất cả các mối đe doạ. Nước mặn xâm nhập gây xáo trộn mùa vụ. Đường xá và hệ thống giao thông tồi tệ nhất nhì trên cả nước. Những cảnh thanh bình Lam Phương miêu tả không còn nữa, vì đồng xanh không còn “vui khúc ca ngày mùa”. Những thực trạng đó là một sự mỉa mai cho hai chữ “phát triển”.

 

Thành ra, khái niệm “phát triển bền vững” là rất liên quan đối với ĐBSCL. Trong bối cảnh đó, tôi hân hạnh giới thiệu bài thứ 5 trong loạt bài về Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Bài này chỉ ra những ‘phát triển’ mà tác giả dùng chữ ‘tự huỷ hoại’ ở vùng đất vựa lúa của cả nước và thế giới.

 

——

 

 

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TỰ HUỶ HOẠI 1975 - 2018

 

NGÔ THẾ VINH

 

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

 

Để tưởng nhớ Mai Chửng

 

điêu khắc gia tượng đài Bông Lúa 1970  

 

 

 

Primum Non Nocere / Trước hết không gây hại.

 

 

 

Hình 1: tới Cửa Trần Đề mút cuối con Sông Hậu, từ trái: Ngô Thế Vinh trên bãi biển Trần Đề; giữa & phải: ĐBSCL với bờ biển ngày đêm bị sạt lở và sói mòn. [photo by Phạm Phan Long & Ngô Thế Vinh]

 

TỚI CỬA TRẦN ĐỀ MÚT CUỐI SÔNG HẬU

 

 

Từ con Kênh Vĩnh Tế biên giới Việt Miên tới Cửa Trần Đề, có thể nói chúng tôi đã đi gần suốt chiều dài con Sông Hậu.

 

Nguy cơ rối loạn dòng chảy hạ lưu là có thật và có thể nhìn tử thượng nguồn. Nhìn về Phương Bắc, từ hơn hai thập niên qua, người viết không ngừng báo động về những mối nguy cơ tích luỹ không thể đảo ngược từ phía thượng nguồn do nạn phá trắng những khu rừng mưa nhiệt đới (rainforest), rồi những khu rừng lũ (flooded forest) quanh Biển Hồ, tới kế hoạch phá đá phá các ghềnh thác (Mekong rapids blasting project) khai thông mở rộng dòng sông Mekong để cho tàu bè của Trung Quốc vận chuyển hàng hoá tràn xuống các quốc gia hạ lưu, cùng với ảnh hưởng lâu dài là những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam, tiếp đến là chuỗi 12 dự án đập dòng chính hạ lưu ở Lào và Cam Bốt với hậu quả gây rối loạn dòng chảy, mất nguồn cát nguồn phù sa nơi các hồ chứa, với thời gian có thể đưa tới một tiến trình đảo ngược, một Đồng Bằng Sông Cửu Long / ĐBSCL còn non trẻ có thể từ từ tan rã.

 

 

 

Hình 2: 16 năm trước thời điểm tháng 9.2002, tác giả đứng bên chân con đập Mạn Loan / Manwan 1,500 MW, con đập lịch sử, con đập dòng chính / mainstream dam đầu tiên trên thượng nguồn Sông Lancang-Mekong Vân Nam, Trung Quốc. [tư liệu Ngô Thế Vinh]  

 

Trung Quốc đang khống chế không chỉ Biển Đông mà còn trên toàn Lưu Vực Sông Mekong, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, giới cầm quyền VN thì lệ thuộc về chính trị vào Trung Quốc và do đó hoàn toàn bị động. Cho dù Việt Nam thỉnh thoảng có lên tiếng phản đối yếu ớt nhưng thực tế không có chiến lược gì cụ thể và hầu như không làm được gì để bảo vệ sự sống còn của hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL và cũng là vựa lúa của cả nước. Đó là một sự thật.

 

Quá trình tự huỷ xảy ra ngay tại ĐBSCL. Lòng sông không ngừng bị nạo vét để lấy cát. Diện tích rừng tràm rừng đước tiếp tục bị phá và thu hẹp. Khai thác vô hạn các tầng nước ngầm. Thêm vào đó là những dự án trọng điểm của nhà nước được cổ xuý là để "cải tạo" ĐBSCL từ sau 1975, nhưng đã gây tác hại nhiều hơn. Đó là những huỷ hoại mang tính tích luỹ.

 

Hậu quả nhãn tiền là bờ sông, bờ biển không ngừng bị sạt lở, đất lún nhanh hơn biển dâng, nạn nhiễm mặn trầm trọng hơn và rõ ràng là nguồn tài nguyên thiên nhiên của cả một vùng đất mới vốn được ưu đãi thì nay cứ nghèo dần đi. Kết luận dễ dàng nhất để rũ bỏ mọi trách nhiệm là đổ lỗi cho Mẹ Thiên nhiên, cho Biến đổi Khí hậu nhưng không thể không kể tới một chuỗi hậu quả tích luỹ của những yếu tố nhân tai, do chính con người gây ra với sự thụ động của giới cầm quyền.  

 

 

 Hình 3: 600 km bờ sông các tỉnh Miền Tây đang bị sạt lở; hình trái, Sông Hậu tỉnh An Giang với nhiều khúc bờ sông bị sạt lở do nhiều yếu tố nhân tai: mất lượng phù sa do hồ chứa nơi những con đập thuỷ điện thượng nguồn, nạn phá rừng, nạo vét lòng sông khắp nơi để khai thác cát. [photo by AX, VN Express 15.05.2017]; hình phải, bờ Sông Hậu sạt lở nơi huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. [photo by PanNature VN 2009]

 

 

Hình 4: Dọc bờ biển ĐBSCL cũng ngày đêm âm thầm bị xói mòn / beach erosion; so với sạt lở ven sông, tình trạng sạt lở ven biển trầm trọng hơn nhiều. Một dãy nhà bị đổ sụp xuống sông được báo chí và dân chúng quan tâm nhiều hơn nhưng sạt lở ven biển là một cái chết chậm và rất âm thầm; hình trái, là cây bần bật gốc bị cuốn trôi rạt nơi Cửa sông Trần Đề. [photo by Ngô Thế Vinh 2017]; hình phải, sạt lở rừng ven biển gây mất đất đai tại huyện Phú Tân tỉnh Kiên Giang. [photo by PanNature VN 2012]

 

QUA CÙ LAO DUNG

 

Gần tới Biển Đông, gặp Cù Lao Dung, Sông Hậu chia làm hai nhánh: hữu ngạn chảy ra cửa Trần Đề (trước đây còn có tên gọi là Trấn Di) thuộc tỉnh Sóc Trăng; tả ngạn chảy ra cửa Định An thuộc tỉnh Trà Vinh. Ở giữa hai cửa Trần Đề và Định An là cửa Ba Thắc rất nhỏ đã bị phù sa vùi lấp từ trăm năm trước. Cửu Long chín cửa: 9, thực tế chỉ có Bát Long: 8, nay thêm cửa Ba Lai của Sông Tiền bị bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây cống đập chặn mặn bít kín, chỉ còn là Thất Long: 7. [Hình 5a]

 

 

Hình 5a: Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng, nay chỉ còn Bảy Cửa: Sông Hậu ba cửa nay còn hai: (1) cửa Trần Đề, (2) cửa Định An, (cửa Ba Thắc / Bassac đã bị lấp). Sông Tiền sáu cửa nay còn năm: (3) cửa Cung Hầu, (4) cửa Cổ Chiên, (5) cửa Hàm Luông, (cửa Ba Lai đã bị đắp đập làm cống chặn mặn từ năm 2000), (6) cửa Đại, (7) cửa Tiểu. [nguồn: bản đồ Dragon/ CTU; với ghi chú của Ngô Thế Vinh, CLCD BĐDS p.360]

 

 

Hình 5b: Cù lao Dung chia Sông Hậu ra làm hai nhánh: nhánh hữu ngạn chảy ra cửa Trần Đề, nhánh tả ngạn chảy ra cửa Định An. [nguồn: Wikipedia, thêm ghi chú của người viết]. 

 

Cù Lao Dung là một trong những cù lao lớn trên Sông Hậu, nằm giữa 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Cù Lao Dung là một huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng, diện tích 24.944 hecta với dân số khoảng 63,000 người [62,931 người theo thống kê 2009]. Phía Đông và Bắc giáp tỉnh Trà Vinh; phía Tây giáp huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng; phía Nam giáp Biển Đông. [Hình 5b]

 

Nếu từ bản đồ Google bung ra, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều cù lao lớn nhỏ trên hai con Sông Tiền và Sông Hậu. Nói chung, đất cù lao là do phù sa bồi đắp nên phì nhiêu, rất thích hợp cho các loại cây trái. Cư dân sống trên đất cù lao, qua nhiều thế hệ, được thiên nhiên ưu đãi phải nói sung túc nếu không muốn nói là giàu có.

 

Do là một cù lao rất lớn và trải dài trên Sông Hậu, nửa cuối Cù lao Dung tiếp cận với Biển Đông nên được hưởng cả hai chế độ thuỷ văn và thuỷ sản nước mặn và nước ngọt theo mùa.

 

Hình 6: tới cuối năm 2017, vẫn còn một nền văn-hoá-phà, hoạt động rất hiệu quả trên nhiều vùng sông nước Cửu Long; các chuyến phà Đại Ngãi trên nhánh Sông Hậu qua lại Cù lao Dung. [photo by Ngô Thế Vinh]

 

 

 

Hình 7: trái, túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm; 100% nước tưới ruộng hành, kể cả nước dùng cho tiện dụng gia cư đều lấy từ các giếng bơm từ các tầng nước ngầm, là nguyên nhân khiến nền đất ĐBSCL lún nhanh hơn mực nước biển dâng. [photo by Phạm Phan Long]; phải, cảnh vẫn thường thấy ngày đêm là những chuyến xà lan chở đầy cát được nạo vét từ hai con Sông Tiền và Sông Hậu, cũng là một trong những nguyên nhân gây sạt lở trầm trọng ven sông. [photo by Ngô Thế Vinh]

 

QUA KÊNH QUAN CHÁNH BỐ

 

Kênh Quan Chánh Bố nguyên là một kênh đào thuộc huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh. Một đầu kênh nối với Sông Hậu ở xã Định An (Trà Cú). Con kênh chạy dọc theo ranh giới huyện Duyên Hải và Trà Cú phía bắc Quốc lộ 53, và đổ ra Biển Đông. Nguyên thuỷ, con Kênh Quan Chánh Bố được đào từ thế kỷ 19 [thời gian 1837 - 1838] để dẫn nước từ Sông Hậu vào rửa mặn vùng đồng lầy Láng Sắt, công trình đào kênh thời đó do Quan Chánh Bố Trần Trung Tiên đảm trách.

 

Sang thập niên đầu của thế kỷ 21, [năm 2009], Bộ Giao thông Vận tải [GTVT] dưới thời bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng, người Đà Nẵng [nhiệm kỳ 06.2006 - 08.2011] triển khai một dự án nạo vét con Kênh Quan Chánh Bố nhằm tạo một thuỷ lộ từ biển đi vào Sông Hậu tới giang cảng Cần Thơ thay cho luồng đi qua cửa Định An, viện lý do cửa Định An bị nhiều phù sa bồi đắp khiến các con tàu trọng tải lớn có nguy cơ mắc cạn khi đi vào Sông Hậu.[sic]

 

Hình 8: Dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố với mức đầu tư ban đầu lên tới 9,781 tỷ đồng, từ ngày đi vào giai đoạn vận hành thử nghiệm đang là nguồn cơn thống khổ của cư dân đang sống hai bên bờ con kênh. [nguồn: tài liệu của Bộ Giao Thông Vận Tải]

 

Với kế hoạch mở rộng và vét sâu theo suốt chiều dài 19.2 km con Kênh Quan Chánh Bố tính từ chỗ nối với Sông Hậu đến xã Long Khánh; đồng thời, khai mở thêm một khúc kênh mới có tên gọi là Kênh Tắt dài 8.2 km được nối phần cuối đoạn mở rộng con Kênh Quan Chánh Bố qua xã Đông Hải thông ra tới biển và thêm đoạn kênh biển dài 7 km. Nếu kể cả đoạn Sông Hậu dài 12.1 km Luồng Kênh Quan Chánh Bố có tổng chiều dài là 46.5 km. [Hình 8]

 

Dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố với mức đầu tư ban đầu lên tới 9,781 tỷ đồng, được khoe đây là "con kênh đào Panama của Việt Nam", một so sánh rất khiên cưỡng. Kênh Panama có tầm vóc thế giới và là một con kênh chiến lược cắt ngang eo đất Panama Trung Mỹ nối liền hai biển lớn là Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, thay vì phải vòng qua Mũi Sừng / Cape Horn điểm cực nam của Nam Mỹ, với rút ngắn hơn nửa khoảng cách đường biển, như tàu bè đi từ New York chỉ phải vượt qua 9,500 km để tới San Francisco thay vì 22,500 km nếu không qua kênh đào Panama.

 

Cũng giống như các dự án trọng điểm khác nơi ĐBSCL, phải nói là dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố được hình thành khá vội vã, cả với những ý kiến bất đồng (4) nhưng vẫn cho khởi công từ cuối năm 2009. Như từ bao giờ, đa số các dự án chưa có đủ thời gian nghiên cứu để có được cơ sở khoa học, thảo luận và đánh giá một cách khách quan, và nhất là thiếu minh bạch; đã thế khi đi vào thực hiện dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố lại không có được hình thức đấu thầu công khai theo luật định, mà là chỉ định nhà thầu thuộc các nhóm lợi ích. Tiêu tốn ngân sách hàng nhiều ngàn tỷ đồng chỉ với mục tiêu đơn giản và cuối cùng là tìm được một đường tàu biển trọng tải lớn ra vào ĐBSCL mà không quan tâm gì tới tính bền vững về môi trường, đến hiệu quả kinh tế, và nhất là sự an toàn cho người dân. Nạn nhân không ai khác hơn vẫn những người "dân đen" được đưa ra làm thử nghiệm. Và, những cuộc thử nghiệm cứ nối tiếp nhau, dù hiệu quả thì chưa thấy rõ nhưng hậu quả thì hầu như ai cũng thấy.

 

Tưởng cũng nên có một ghi chú bên lề, bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng sau nhiệm kỳ 5 năm ở Bộ Giao Thông Vận Tải cho tới lúc nghỉ hưu vào tháng 8.2011 khi đó công trình con Kênh Quan Chánh Bố còn dở dang và cũng theo báo chí lề phải trong nước, để chuẩn bị trước về hưu, khi còn tại nhiệm chính ông Hồ Nghĩa Dũng cũng đã chỉ định một nhà đầu tư cho một Dự án lớn khác: Xây đường hầm Đèo Cả để rồi sau đó không ai khác hơn là chính ông tham gia vào Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần đầu tư Đèo Cả. Bước chuẩn bị này đã từng gây tai tiếng, bị chính báo chí trong nước gọi đây là "hành động lót ổ" đồng thời là "một tiền lệ xấu". Ông bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng còn được nhớ tới với thành tích đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam dài 1570 km với kinh phí 55 tỉ USD, may mà sau đó dự án đã bị Quốc hội khoá XII biểu quyết bác bỏ.

 

Công trình Kênh Quan Chánh Bố sau đó được tiếp tục qua thời Bộ trưởng kế nhiệm Đinh La Thăng, người Nam Định, [nhiệm kỳ 03.2011 - 08.2016] với một tiểu sử rất dày: trước khi về bộ Giao thông Vận tải, ông đã là Chủ tịch Hội đồng Dầu khí Quốc gia VN (2008-2011), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Dầu khí Quốc gia VN (2005-2008), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Sông Đà (2001-2003); và nay 2018 thì đang bị dính vào vòng lao lý do "cố ý làm sai trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng khi ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng Dầu khí Quốc gia VN". 

 

Và rồi sau 7 năm khởi công [2009 - 2016], công trình Luồng Kênh Quan Chánh Bố được hoàn thành vào đầu năm 2016; với thành tích là những con số: Kênh Quan Chánh Bố nay có thể tiếp nhận các tàu biển lớn 20.000 tấn giảm tải và 10.000 tấn đầy tải vào Sông Hậu. WIKIPEDIA

 

Và chỉ một năm đi vào hoạt động với không ít hệ luỵ, theo báo Đất Việt [ngày 10.04.2017], Bộ Giao Thông Vận Tải / GTVT lại tính thay thế Phà Kênh Tắt bằng một Đường hầm chui qua Kênh Tắt, khiến dư luận hết sức băn khoăn.

 

Hình 9: Kênh Tắt là đoạn kênh đào mới nối đoạn cuối con Kênh Quan Chánh Bố thông ra biển. Để nối hai bờ Kênh Tắt trên QL 53 dự tính ban đầu là Cầu Kênh Tắt; sau đó cầu được thay thế bằng Phà Kênh Tắt, chỉ mới một năm Phà Kênh Tắt đi vào hoạt động, Bộ GTVT lại tính thay thế bằng Đường Hầm Chui qua Kênh Tắt với dự tính tổn phí lên tới 10,319.2 tỷ đồng... khiến GS Nguyễn Ngọc Trân, người theo dõi dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố từ giai đoạn đầu tiên đã phải vô cùng ngạc nhiên vì chủ đầu tư thay đổi phương án như thay áo cho dù phải chi hàng ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước. (2) [photo by Ngô Thế Vinh] 

 

GS Nguyễn Ngọc Trân, [người gốc người Miền Tây, sinh ra trên một cù lao giữa Sông Tiền, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, là thành viên lâu năm Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ từ 1992 phải lên tiếng:

 

"Điều gây ngạc nhiên đến khó có thể tưởng tượng là thông báo trong Trang địa phương của vị Thứ trưởng, nguyên Cục Trưởng Cục Hàng hải, rằng Thủ tướng Chính phủ có chủ trương giao cho Bộ GTVT nghiên cứu làm hầm qua Kênh Tắt để tránh cho người dân không phải qua phà đồng thời đảm bảo an toàn cho luồng tàu biển. Để làm việc này, Trang địa phương cho thông tin sẽ cần thêm 50 ha đất, và trên 3,000 tỷ đồng. Dự kiến sẽ triển khai vào cuối năm nay.

 

Gây ngạc nhiên vì phương án đầu tiên nối hai bờ Kênh Tắt trên QL 53 là Cầu Kênh Tắt. Qua quá trình triển khai dự án, phương án cầu đã được thay thế bằng Phà Kênh Tắt. Phà này mới được đưa vào hoạt động từ ngày 20.01.2016, ngày thông luồng Kênh Tắt. Như vậy, chỉ sau một năm đi vào hoạt động, Bộ GTVT lại tính thay thế Phà Kênh Tắt bằng một Hầm Chui qua Kênh Tắt. Và thay đổi này không phải là duy nhất.

 

Khi được cho triển khai (công văn số 123/TTg-CN ngày 22.01.2007) tổng mức đầu tư của dự án là 3,148.5 tỷ đồng. Mười tháng sau, tổng mức đầu tư của dự án được Bộ GTVT duyệt tại Quyết định số 3744/QĐ-BGTVT ngày 30.11.2007 tăng từ 3,148.5 lên 10,319.2 tỷ đ