June 24, 2020

Please reload

Recent Posts

Hình tượng giáo sư qua Socrates

February 13, 2018

1/1
Please reload

Featured Posts

Bổ nhiệm giáo sư: 5 "nên" và 5 "không nên"

March 3, 2018

Mấy ngày qua, có thể nói là báo chí và công chúng 'dậy sóng' về chức danh giáo sư. Sau quyết định công nhận hơn 1200 giáo sư và phó giáo sư, ông Thủ tướng yêu cầu phải rà soát lại. Kết quả ra soát càng làm công chúng nghi ngờ thêm! Báo VNexpress hỏi tôi về qui trình bổ nhiệm giáo sư ở Úc và có đề nghị gì về qui chuẩn cho chức danh giáo sư ở Việt Nam. Tôi có 5 đề nghị "nên" và năm đề nghị "không nên".

 

Bài phỏng vấn đã đăng hai kì trên VNexpress:

 

https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/giao-su-o-australia-duoc-bo-nhiem-nhu-the-nao-3717429.html

 

https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/gs-nguyen-van-tuan-khong-nen-bo-nhiem-quan-chuc-lam-giao-su-3717824.html

 

===

 

Phóng viên (PV): Quy trình phong hàm giáo sư ở Australia như thế nào?

 

NVT: Ở Úc, cũng như ở nhiều nước nói tiếng Anh như Mĩ, Canada, Anh, v.v., giáo sư được xem là một chức vụ trong hệ thống đại học. Vì là chức vụ, nên không có khái niệm tiến phong, chỉ có bổ nhiệm. Việc bổ nhiệm giáo sư là do các đại học thực hiện thông qua một qui trình chuẩn. Qui trình này có 4 bước như sau:

 

  • Bước 1, ứng viên soạn thảo một hồ sơ khoa học, và đệ trình cho khoa trưởng. Hồ sơ bao gồm lí lịch khoa học, bản sao 10 bài báo quan trọng trong sự nghiệp và 5 bài báo trong 5 năm qua, kèm theo một văn bản giải thích tại sao ứng viên đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra cho chức vụ giáo sư.

  • Bước 2, khoảng 2-3 tháng sau ngày đệ trình cho khoa, một hội đồng bổ nhiệm và đề bạt (committee of appointment and promotion) cấp khoa họp, xem xét hồ sơ, và gửi hồ sơ ra ngoài cho các giáo sư khác bình duyệt.

  • Bước 3, khoảng 2-3 tháng sau khi nhận được bình duyệt của các giáo sư ngoài, hội đồng bổ nhiệm và đề bạt cấp trường sẽ họp và phỏng vấn ứng viên (nếu ứng viên có cơ hội được mời phỏng vấn). Sau đó, hội đồng sẽ xem xét có nên bổ nhiệm hay đề bạt ứng viên.

  • Bước 4 là quyết định bổ nhiệm, thường là do hiệu trưởng đại học kí.

 

Đó là qui trình chung, nhưng qui trình này có khi còn tùy thuộc vào cấp giáo sư nữa. Ví dụ như đề bạt từ phó giáo sư lên giáo sư thực thụ thì còn phải qua hai lần phỏng vấn, chứ không phải một lần cho cấp phó giáo sư. Như có thể thấy qua qui trình trên, các thủ tục rất đơn giản và minh bạch. Đại học Tôn Đức Thắng cũng có qui trình tương tự như trên.

 

PV: Tiêu chí gì được chú trọng?

 

NVT: Tiêu chí thì giống nhau, nhưng tiêu chuẩn thì tùy thuộc vào trường đại học, cấp giáo sư và ngạch bổ nhiệm. Ở Úc có hai ngạch bổ nhiệm giáo sư: nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Nhưng dù ở ngạch nào hay cấp nào thì ứng viên vẫn được xét duyệt dựa trên 5 tiêu chí chính:

 

  • Thành tích nghiên cứu khoa học;

  • Thành tích giảng dạy và đào tạo;

  • Đóng góp cho chuyên ngành trên bình diện quốc gia và quốc tế;

  • Đóng góp cho trường đại học;

  • Đóng góp cho cộng đồng xã hội và chính sách công.

 

Mỗi tiêu chí có một nhóm tiêu chuẩn. Chẳng hạn như trong tiêu chí về nghiên cứu khoa học, hội đồng sẽ xem xét đến phẩm chất và thành tựu nghiên cứu khoa học của ứng viên. Phẩm chất khoa học có đánh giá qua số trích dẫn (chứ không phải số bài báo), tập san công bố, tác động đến chuyên ngành, v.v. Không có những con số cụ thể bao nhiêu, bởi vì những chỉ số vừa kể chỉ có tính tham khảo. Tuy nhiên, có những con số "hiểu ngầm", như ở các trường Go8 (tức thuộc nhóm 8 đại học nghiên cứu) thì một giáo sư phải có chỉ số H từ 20 trở lên, phó giáo sư phải có chỉ số H 15 trở lên. Kinh nghiệm tôi đã và đang ngồi trong các hội đồng này thì một giáo sư đạt được những 'chuẩn' đó thường có ít nhất 100 bài báo khoa học, còn phó giáo sư thì con số phải cỡ 40 trở lên. Đó là tiêu chuẩn cho ngạch giáo sư nghiên cứu, còn ngạch giáo sư giảng dạy thì có phần thấp hơn.

 

Mấy năm gần đây, một tiêu chuẩn quan trọng khác là thu hút tài trợ. Tôi thấy rất nhiều hồ sơ giáo sư nhấn mạnh đến số tiền (thường là bạc triệu USD) mà họ đem về cho trường. Lí do là mỗi đô la họ đem về cho trường thì trường được hưởng 30 cent. Do đó, thu hút tài trợ vừa là một thước đo đóng góp cho nhà trường mà vừa là một tín hiệu được đồng nghiệp ghi nhận.

 

Tiêu chí về nghiên cứu khoa học dù có thể quan trọng nhất, nhưng vẫn chưa đủ để được bổ nhiệm hay đề bạt chức vụ giáo sư. Một giáo sư thực thụ trước hết phải là một người "lãnh đạo khoa học", và ứng viên phải chứng minh khả năng này qua các hoạt động khác như đóng vai trò quan trọng trong các hiệp hội chuyên môn cấp quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong các hội đồng xét duyệt tài trợ khoa học, hội đồng biên tập của các tập san khoa học có uy tín. Ứng viên còn phải chứng minh mình được đồng nghiệp quốc tế công nhận qua các hình thức như được chủ tọa hay mời giảng trong các hội nghị quốc tế, được mời viết xã luận và tổng quan, v.v. Tất cả những tiêu chí này tuy chẳng có thước đo cụ thể, nhưng có khi lại là yếu tố quyết định cho sự thành bại trong bổ nhiệm và đề bạt!

 

Một tiêu chí khác cũng quan trọng không kém là đóng góp cho trường và cho xã hội. Một giáo sư, dù là cấp thấp hay cao, phải ý thức rằng mình có nhiệm vụ đóng góp cho trường và cho đất nước, chứ không phải chỉ ngồi trong 'tháp ngà' khoa bảng. Những đóng góp này có thể là qua hình thức viết báo phổ thông, phục vụ trong các ban tư vấn cho chính phủ, phục vụ trong các hội đồng cấp trường.

 

Tuy nhiên, như tôi nói lúc đầu, mỗi trường có một bộ tiêu chuẩn khác nhau, bởi vì nó phụ thuộc vào quá trình phát triển của trường. Những trường lâu năm và danh tiếng thường có bộ tiêu chuẩn cao hơn và qui trình gắt gao hơn những trường đang trong giai đoạn củng cố và phát triển. Có khi họ yêu cầu ứng viên phải chỉ ra là ứng viên tương đương với giáo sư nào trên thế giới. Do đó, chức vụ và chức danh giáo sư rất phụ thuộc vào trường.

 

Đó là chưa kể đến những trường hợp được bổ nhiệm 'thần tốc' hay chẳng qua qui trình chuẩn trên, nhưng những trường hợp này không nhiều. Chẳng hạn như vài ngày trước, Đại học Công nghệ Sydney (UTS) bổ nhiệm một nhà báo kì cựu chức giáo sư và giám đốc Trường báo chí, dù nhà báo này chưa từng giảng dạy và cũng chưa từng nghiên cứu khoa học có công bố quốc tế. Những trường hợp như thế tuy hiếm nhưng càng ngày càng nhiều, vì sự thay đổi nhận thức về chức vụ giáo sư ở các đại học phương Tây.

 

PV: Mục đích của việc phong hàm giáo sư là gì?

 

NVT: Mục đích số 1 của việc bổ nhiệm (chứ không phải "tiến phong") giáo sư là nhằm thu hút và giữ nhân tài. Hai chữ 'nhân tài' ở đây phải hiểu là những nhà khoa học có những thành tích và thành tựu khoa học và giảng dạy giúp nâng cao uy danh của trường đại học trên trường quốc tế. Tiếng Anh gọi mục đích này là 'visibility', tức là 'điểm nổi'. Trường đại học có nổi hay không là nhờ vào những giáo sư và những đóng góp của họ.

 

Mục đích thứ hai là ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học. Ghi nhận qua việc bổ nhiệm họ vào vị trí tương xứng. Vị trí tương xứng trong khoa bảng, xã hội, và tài chánh. Do đó, có thể nói rằng mục đích thứ hai của việc bổ nhiệm giáo sư là tưởng thưởng.

 

PV: Anh đánh giá thế nào về số lượng giáo sư, phó giáo sư Việt Nam tăng đột biến năm vừa qua?

 

NVT: Báo chí và nhiều người trong giới học thuật đã nhận xét rằng con số giáo sư và phó giáo sư năm nay tăng một cách "đột biến" so với năm trước. Tôi xem lại con số thì sự gia tăng chủ yếu là ở nhóm phó giáo sư (tăng gần 80%, từ 638 đến 1141), còn nhóm giáo sư thì tăng 30% (từ 65 lên 85 người). Đúng là có tăng bất thường.

 

Nhưng tôi nghĩ nếu nhìn lại quá khứ thì cũng đã có những đợt tăng đột biến như thế. Có thể xem biểu đồ dưới đây để thấy xu hướng tôi vừa đề cập. Qui chế phong giáo sư ở Việt Nam bắt đầu từ 1980, và năm đó có đến 83 người được phong giáo sư và 347 người là phó giáo sư. Hai năm sau, số GS và PGS lần lượt là 117 và 664, tính ra tăng 82% so với năm 1980. Năm 1992, Nhà nước phong chức danh giáo sư cho 247 người, và con số này là kỉ lục trong suốt 38 năm qua.  Ngay cả những năm 1984, 1992, 1996 và 2002, con số GS dao động trong khoảng 115 đến 210 người! Do đó, có thể nói con số giáo sư được công nhận năm nay (2017) không phải là quá cao.

 

Tuy nhiên, con số phó giáo sư được công nhận năm 2017 thì đúng là cao một cách bất thường so với suốt thời gian từ 1980 đến 2016.

 

Để thấy những con số GS/PGS của Việt Nam là bất bình thường, chúng ta phải nhìn sang Thái Lan để so sánh. Số liệu năm 2015 của Bộ Giáo dục Thái Lan cho biết các đại học hiện có 6376 associate professor (tức phó giáo sư) và 754 professor (tức cấp "giáo sư" của Việt Na